Lần
đầu tiên Phêrô được nghe giới thiệu về thầy Giêsu là thông qua người
anh em của mình là Anrê. Sau một ngày ở với Giêsu, Anrê về nhà thuật lại
với Phêrô là mình đã thấy Đấng Cứu Thế. Phêrô cũng nghe thế thôi, chứ
nào biết Đấng Cứu Thế ấy là ai. Thế rồi, chuyện xảy ra với ông hệt như
một giấc mơ.
Vào một ngày đẹp trời, khi ông cùng gia đình đang giặt lưới
sau một đêm đánh cá thất bại thì Giêsu bước đến, xin được ngồi trên
thuyền của ông và nhờ ông chèo ra xa một chút để Ngài có thể giảng dạy
cho dân chúng cả ngàn vạn đang đứng trên bờ. Phêrô lòng mừng như mở hội,
liền làm theo. Nghe danh tiếng vị Thầy này đã lâu, nay chính Phêrô được
ngồi dưới chân Thầy để nghe giảng dạy.
Vị Thầy danh giá kia không chọn
cho mình một tòa giảng uy nghiêm để giáo huấn, nhưng lại chọn con thuyền
nhỏ bé ọp ẹp của mình. Giảng xong, Giêsu còn thực hiện ngay trước mắt
Phêrô một phép lạ nhãn tiền về mẻ cá, khiến ông vô cùng kinh ngạc. Trong
khi Phêrô còn chưa hoàn hồn vì lời nói và quyền năng của Người, Giêsu
đã lên tiếng mời gọi ông hãy theo Người; đồng thời hứa hẹn một tương lai
khác sẽ đến với ông.
Bỏ
hết mọi sự lại đàng sau, Phêrô cất bước lên đường theo Chúa. Khoảng
thời gian không quá dài nhưng cũng đủ để Phêrô hiểu hơn về con người
Giêsu. Đi đâu, làm gì, bí mật gì, Giêsu cũng tỏ bày cho Phêrô. Giêsu đã
dành cho Phêrô điều ưu ái. Đặc biệt, một lần nọ, nhờ mặc khải của Chúa
Cha, Phêrô đã nhận ra và tuyên xưng căn tính Mêsia của Đức Giêsu. Giêsu
đã không ngần ngại đặt ông đứng đầu nhóm Mười Hai, đồng thời trao cho
ông chìa khóa Nước Trời, hứa sẽ xây dựng trên ông tòa nhà Giáo Hội. Tòa
nhà này vững vàng đến độ cả quyền lực tử thần cũng không thể nào làm
chuyển lay. Phêrô hạnh phúc khi trở thành người thân cận của Thầy và
được Thầy mặc khải cho nhiều thứ.
Cứ
ngỡ là với những đặc ân ấy, hành trình theo Giêsu của ông thêm phần
vững chãi. Ông tưởng rằng với chút tình cảm ông dành cho Chúa và những
lời khen Chúa dành cho ông có thể khiến ông xông pha với Giêsu trên
đường thương khó. Nào ngờ, vì một phút yếu mềm, ông thẳng thừng chối bỏ
tương quan giữa mình với Chúa. Tòa nhà ảo tưởng mà ông tự xây nên cho
mình sụp đổ ngay trước mắt ông, làm tan vỡ trong ông bao cao ngạo về
mình. Chúa muốn được sát cánh bên ông nên ban cho ông biết bao ân sủng.
Còn ông, sau một thời gian dài cất bước theo Chúa, ông vẫn chỉ theo từ
đàng xa, thậm chí có khi quay lưng, không còn muốn theo nữa.
Nhưng
trên bờ biển hồ, khi xác tín lại lần nữa tình yêu của mình dành cho
Giêsu, Phêrô như được Thầy bổ sung thêm sinh lực. Lời mời gọi theo Thầy
đầu tiên cũng đến từ bờ hồ, sau mẻ cá lạ. Giờ đây, cũng trong một khung
cảnh tương tự như thế, một lời mời gọi bước theo Thầy lại tiếp tục được
cất lên. Cả hai lần đều là theo Thầy, nhưng lần này là một cuộc bước
theo quyết liệt hơn, vì đã trải qua bao vấp ngã. Bước theo Thầy lần này
đồng nghĩa với sứ vụ chăn dắt các con chiên của Thầy, để rồi khi về già,
ông sẽ được dẫn đến nơi mà ông không muốn. Cuộc đời của Phêrô cứ mãi là
một sự lặp lại giữa theo Thầy rồi vấp ngã, rồi lại tiếp tục theo Thầy.
Mỗi lần theo Thầy lần nữa là mỗi lần tiếng gọi trong ông thêm mãnh liệt
và sự dấn thân có phần thúc bách hơn.
Các bạn trẻ thân mến,
Tiếng
gọi của Giêsu mời ta bước theo Ngài luôn vang vọng trong tâm trí ta.
Lúc nào ta cũng được thôi thúc để bước đi trên đường lành, làm điều tốt.
Lúc nào ta cũng được mời gọi để dấn thân phục vụ, để hy sinh và chia
sẻ. Cảm nghiệm được tình yêu Ngài dành cho ta, có khi ta rất hăng hái,
cho đi mà không biết mệt mỏi, dấn thân, quên mình. Nhưng cũng có khi
bước chân ta trở nên mệt mỏi và nặng nề. Ta buông trôi đời sống mình
trong những lạc thú. Hành trình theo Chúa của ta bị khựng lại ở những
tật xấu hay những tội lỗi truyền kiếp của ta. Mỗi lần như thế, ta thường
thấy chán nản và không muốn tiếp tục dấn thân. Ta thu mình về trong góc
phòng tăm tối với những cảm xúc u buồn và tiêu cực của ta.
Ngày
hôm nay, Giêsu như một lần nữa tiếp tục mời gọi ta lên đường theo Chúa.
Tội lỗi ta có cao như núi, miễn là ta vẫn còn yêu Chúa và muốn dấn
thân, Chúa chẳng bao giờ từ chối. Đừng để tội lỗi làm ta chùn lòng,
nhưng hãy để tình yêu Đức Kitô cuốn hút ta. Hãy biết đứng lên sau những
lần vấp ngã. Hãy biết chỗi dậy sau những lần ngủ mê. Hãy để cho tiếng
gọi của Giêsu thôi thúc cõi lòng ta. Giêsu luôn trao ban cho chúng ta
những cơ hội mới. Ngài không đòi hòi điều gì nơi ta, ngoại trừ một tình
yêu xuất phát tự trái tim dành cho Người. Tín thác vào tình yêu của
Người, chúng ta hãy vượt qua những cảm giác chán chường thất vọng, để
tiếp tục thưa tiếng xin vâng với Người khi Người cất tiếng mời gọi ta
lần nữa.
Hình ảnh trái tim bị đâm thâu mà chúng ta thường chiêm ngắm đã nói lên tất cả những điều này. Nghĩ đến Giêsu, ta nghĩ ngay đến một tình yêu vĩ đại, nhưng không, một tình yêu cứu thế, lan rộng và ôm lấy tất cả mọi loài. Đúng là như thế! Nhưng nếu chỉ là như thế thôi, thì có khi ta lại thấy Ngài rất xa cách và trừu tượng.
Vâng, Ngài là Đấng Cứu Thế, Ngài là một Đấng có quyền năng, Ngài là một người đàn ông mạnh mẽ và kiên cường. Nhưng Tin Mừng cũng tiết lộ cho chúng ta biết, Ngài còn là một con người rất nặng tình nặng nghĩa.
Đức Giêsu – một con người nặng tình
Tất cả con người và giáo lý của Đức Giêsu đều xoay quanh chữ yêu. Ai trong chúng ta cũng đồng ý điều đó. Vì yêu nên Ngài xuống thế làm người. Vì yêu nên Ngài bôn ba khắp nơi rao giảng Tin Mừng. Vì yêu nên Ngài sẵn sàng chịu chết trên cây thập giá để cứu độ chúng ta.Hình ảnh trái tim bị đâm thâu mà chúng ta thường chiêm ngắm đã nói lên tất cả những điều này. Nghĩ đến Giêsu, ta nghĩ ngay đến một tình yêu vĩ đại, nhưng không, một tình yêu cứu thế, lan rộng và ôm lấy tất cả mọi loài. Đúng là như thế! Nhưng nếu chỉ là như thế thôi, thì có khi ta lại thấy Ngài rất xa cách và trừu tượng.
Vâng, Ngài là Đấng Cứu Thế, Ngài là một Đấng có quyền năng, Ngài là một người đàn ông mạnh mẽ và kiên cường. Nhưng Tin Mừng cũng tiết lộ cho chúng ta biết, Ngài còn là một con người rất nặng tình nặng nghĩa.
Người
ta thường gán những giọt lệ cho giới phụ nữ yếu đuối. Người phụ nữ
thường khóc khi tủi thân, khi buồn, khi cảm động. Người đàn ông mà khóc
thường ít ai nghĩ tới. Nhưng không phải vì người đàn ông không có nước
mắt, chỉ bởi vì họ cố gắng kìm giữ nó để cố gắng tỏ ra mạnh mẽ mà thôi.
Vậy nên, nếu một lúc nào đó, người đàn ông bỗng bật khóc thì cảm xúc và
tâm tư của người ấy lúc đó phải rất dồi dào và tha thiết, đến nỗi dũng
lực nam nhi cũng không thể giữ những dòng lệ lại được.
Đức Giêsu cũng
biết khóc đấy! Các bạn có bao giờ tưởng tượng ra cảnh Ngài khóc chưa?
Tin Mừng có thuật lại cho chúng ta ít là hai lần Ngài đã không cầm được
nước mắt ở Lc 19,41 và Ga 11,35. Đó là khi Ngài khóc thương thành
Giêrusalem cứng lòng tin, phải chịu cảnh tan tác khắp nơi và khi Ngài
khóc thương vì sự ra đi của người bạn thân tên là Lazarô, em của Matta
và Maria.
Đức Giêsu không phải là một
vị cao nhân lạnh lùng, không cảm xúc, dửng dưng trước mọi chuyện của
nhân tình thế thái. Ngài không phải là người chiêm niệm về những gì cao
siêu, rồi thoát ly hoàn toàn khỏi thế gian với bao điều ngang trái. Ngài
không phải là một vị tôn sư chỉ biết ngồi trên bệ cao để đưa ra bài học
này giáo thuyết nọ, cho dù đó là những điều khôn ngoan. Đức Giêsu có
một khối óc tinh tường, có đôi bàn tay quảng đại, có đôi bàn chân vững
chãi, nhưng quan trọng hơn cả, Ngài có một trái tim luôn biết thương xót
và cảm thông.
Biết được tương lai buồn bã của thành thánh Giêrusalem,
nghĩ đến cảnh hoang tàn đổ nát của nó, nghĩ đến cảnh con người bị tản
mác khắp nơi chứ không được quy tụ về như đàn gà con dưới cánh mẹ, Đức
Giêsu không khỏi buồn thương và nhỏ những giọt lệ tiếc nuối. Khi hiện
diện trong tang lễ của Lazarô, nhìn thấy cảnh mọi người khóc lóc vì sự
ra đi của người thân, dòng lệ bỗng tuôn trào ra nơi khóe mắt của Giêsu
một cách tự nhiên, hệt như bao người khác. Hẳn là phải thương thành
Giêrusalem và người bạn của mình nhiều lắm, Đức Giêsu mới có thể xúc
động đến nghẹn ngào như vậy.
Rồi không
biết bao nhiêu lần khác, Tin Mừng nói cho chúng ta biết Đức Giêsu động
lòng, cảm thương, bồi hồi, xao xuyến. Những khi nhìn thấy đám người đông
đúc lây lất bơ vơ như ngọn cỏ khô giữa trời chiều, những khi thấy bệnh
nhân chịu hành hạ vì cơn đau đớn và bị ruồng rẫy, tâm trạng Ngài chợt
trồi lên cảm xúc, thúc đẩy Ngài phải làm cái gì đó cho họ. Ngài thương
họ và không nỡ để cho cơn bệnh hành hạ họ nữa, hay thậm chí không thể để
họ bụng đói mà về nhà. Người ta kéo đến với Ngài đông nghịt từ trong
nhà đến ngoài ngõ, Ngài chẳng nỡ chối từ. Muốn tìm một chỗ thanh vắng để
nghỉ ngơi, nhưng khi thấy dân chúng lặn lội đường xa tìm mình, Đức
Giêsu chẳng còn thiết chi mệt mỏi nữa, nhưng tận tình giảng dạy họ với
hết năng lượng của mình. Thương đoàn người đông đảo như đàn chiên không
có người chăn, lòng Giêsu cũng bồi hồi mường tượng đến cảnh một đồng lúa
mênh mông, đã đến mùa gặt, thây cây trĩu xuống, nhưng chẳng có mấy
người tình nguyện làm thợ gặt cùng Ngài ra đi. Bao nhiêu sáng kiến tông
đồ của Giêsu chắc cũng phôi thai từ những lần cảm thương và yêu mến đám
dân nghèo như thế.
Nhưng có lẽ điều
làm chúng ta cảm động nhất khi chiêm ngắm con người tình cảm của Giêsu
là khi Ngài chuẩn bị bước vào Cuộc Thương Khó. Quả thực Ngài là người
rất mạnh mẽ, vì chẳng một người yếu đuối nào có thể chịu đựng được những
gì Ngài phải chịu vào khoảng thời gian định mệnh ấy. Nhưng sự mạnh mẽ
không biến Ngài trở thành một con người trơ trơ, khô khốc, không có cảm
xúc gì. Một trong những điều khiến Đức Giêsu bồi hồi xao xuyến rất nhiều
vào đêm tiệc ly chính là việc Ngài phải rời xa các môn đệ mà Ngài vô
cùng yêu mến.
Ai đã từng có kinh nghiệm ra cách người thân của mình sẽ
hiểu được cảm giác này của Ngài. Cho dù các môn đệ không phải là những
con người xuất chúng, lỗi lạc, nhưng một khoảng thời gian dài chia sẻ
cuộc sống với nhau cũng đủ để xây dựng với nhau một tình cảm không dễ
phai nhòa.
Xa một người thân yêu, ta đau như thể bị cắt đi một khúc
ruột. Rồi cả việc lo lắng cho họ nữa, không biết họ sẽ ra sao khi mình
bị bắt, bị hành hạ và bị giết chết, không biết họ có đủ niềm tin để vượt
qua thử thách này không, không biết họ có bao bọc che chở nhau vào
khoảnh khắc đen tối này không. Gồm chứa trong cây thập tự mà Giêsu phải
vác lên đồi còn có nỗi đau của sự chia cách giữa Ngài với các môn đệ.
Nhưng
Đức Giêsu nặng tình chứ Ngài không ủy mị. Trái tim của Đức Giêsu dạt
dào những cảm xúc yêu thương và mong muốn được gần gũi người thân, nhưng
đó không phải là một kiểu tình cảm hời hợt, nhất thời và ướt át. Ngài
yêu và yêu hết mình, nhưng Ngài không quỵ lụy tình yêu. Ngài có thể khóc
khi cần khóc, nhưng Ngài không ở lại trong những giọt nước mắt làm đẫm
hàng mi. Ngài không muốn chia xa, nhưng nếu việc chia xa là cần và không
thể tránh thì Ngài can đảm chấp nhận mà không oán than và để lòng u uất
trong phiền não.
Cái tình của Ngài là một cái tình đầy sức mạnh và lòng
quả cảm. Cái tình ấy làm cho Ngài trở thành một con người thật dễ
thương, gần gũi, đáng yêu, chứ không biến Ngài thành gánh nặng của người
khác. Bởi thế, người sống có tình không phải là những người yếu đuối
như ta vẫn hay lầm tưởng. Ấy phải là những con người rất mạnh, mạnh từ
trong chính tâm hồn.
Tình yêu mà Đức
Giêsu dành cho nhân loại không trừu tượng và mông lung, nhưng rất cụ thể
và được thể hiện rất rõ trong cung cách hành xử và những biểu hiện cảm
xúc của Ngài. Ngài có nét phi thường và dũng mãnh của một vị cứu tinh,
nhưng Ngài cũng có nét tình cảm và hiền dịu của một vị mục tử. Ngài sẵn
sàng khóc cùng với những nỗi lòng của chúng ta. Con tim Ngài sẽ bồi hồi
xao xuyến cùng với những tâm tư của ta.
Vậy thì cớ gì ta không chạy đến
với Ngài mỗi khi đoạn đường ta đi có chút khó khăn và ngăn trở, mỗi khi
lòng ta như se thắt lại trước những bão tố của cuộc đời? Đức Giêsu như
muốn nhắc nhở chúng ta rằng sống giữa đời, cái lý là cần thiết nhưng cái
tình mới giúp nối kết trái tim; cái lý làm cho người ta tỉnh táo nhưng
cái tình mới giúp người ta cảm thấy cuộc sống này thú vị biết bao. Biết
cảm thương, biết khóc, biết để lòng mình đồng điệu với tha nhân, điều đó
mới làm cho con người chúng ta trở nên cao quý.
Pr. Lê Hoàng Nam, SJ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét