Hiển thị các bài đăng có nhãn QUAN TÂM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn QUAN TÂM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 27 tháng 2, 2018

ƠN GỌI HÔN NHÂN VÀ ÐỜI SỐNG GIA ÐÌNH

ƠN GỌI HÔN NHÂN
VÀ ÐỜI SỐNG GIA ÐÌNH
Ðaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
Lời mở đầu cho loạt bài chủ đề trên đây:
GIA ÐÌNH: CỬA NGÕ LỜI NHẬP THỂ
Chúng ta đang cùng với chung Kitô Giáo và riêng Giáo Hội Công Giáo Long Trọng Mừng Kỷ Niệm (the Great Jubilee) 2000 Năm Thiên Chúa Giáng Sinh Làm Người. Thế nhưng, "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Jn 1:14) như thế nào, nếu không phải "Thiên Chúa vô hình" (Col 1:15), "Thiên Chúa là Thần Linh" (Jn 4:24) đã thực sự đi vào trần gian qua ngưỡng cửa của đời sống gia đình, một đời sống mà ngay từ ban đầu đã được chính Thiên Chúa cố ý thành lập, qua việc Ngài dựng nên con người "có nam có nữ" (Gn 1:27) và đã đứng ra chủ hôn trong việc kết hợp họ "nên một xương thịt" (xem Gn 2:23-24), để họ có thể "sinh sôi nẩy nở tràn lan khắp trái đất mà làm chủ nó" (Gn 1:28) như dự án của Ngài.
Tuy nhiên, 2000 Năm sau biến cố Nhập Thể và Giáng Sinh của mình, Thiên Chúa chẳng những không thấy loài người trở nên thanh sạch và lành thánh hơn, trái lại, càng văn minh họ lại càng băng hoại hơn bao giờ hết, hơn cả thời kỳ đại hồng thủy trong Cựu Ước ngày xưa, lúc mà: "con người chỉ toàn là xác thịt" (Gn 6:3), đến nỗi "khi Thiên Chúa thấy con người quá ư là bại hoại tội lỗi trên trái đất này và thấy rằng lòng trí họ chỉ toàn là sự dữ thì với một tấm lòng sầu thảm Ngài tỏ ra hối hận vì đã dựng nên con người trên thế gian. Thế là Chúa phán: 'Ta sẽ loại trừ khỏi mặt đất loài người Ta đã tạo dựng.' Trước mắt của Thiên Chúa thì trái đất đã bị băng hoại và đầy những lăng loàn" (Gn 6:5-7, 11).
Thật vậy, bộ mặt trái đất là văn hóa của con người nói chung và bản thân con người nói riêng ngày nay còn "băng hoại và lăng loàn" còn hơn cả thời đại hồng thủy nữa! Ở chỗ, ngày xưa người ta chưa văn minh bằng ngày nay, chưa cho rằng mình sống nhân bản như ngày nay, thế mà, chính lúc con người văn minh (về khoa học và kỹ thuật) và nhân bản (về ý hệ và văn hóa) ngày nay lại hùa nhau quay ra phản lại Ðấng Tối Cao của mình, chẳng những trong việc hạ bệ Ngài xuống, bằng cách hủy bỏ những gì Ngài đã thiết lập ngay từ ban đầu liên quan đến hôn nhân và gia đình (xem Gn 2:23-24, 1:28), khi ngang nhiên cho phép ly dị và phá thai, mà còn thay chỗ của Ngài bằng một ngẫu tượng duy nhân bản, một con bò đúc bằng vàng (xem Ex 32:1, 4), khi cho phép hôn nhân đồng tính và tạo sinh ngoại nhiên v.v.
Bởi thế, để thực sự Long Trọng Mừng 2000 Năm Thiên Chúa Nhập Thể Giáng Sinh Làm Người, tức là để cảm tạ tri ân "Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình" (Jn 3:16), nhất là "đã không dung tha cho Con mà lại phó nộp Người vì tất cả chúng ta" (Rm 8:32), Kitô hữu giáo dân chúng ta không gì bằng hãy ý thức lại ơn gọi hôn nhân của mình và nhờ đó cố gắng sống đời sống gia đình trong ý nghĩa đích thực và cao cả của nó đúng như ý định của Thiên Chúa. Ðó là lý do hiện hữu của những bài chia sẻ về hôn nhân và gia đình xin được trình bày cùng quí độc giả sau đây.

GIA ÐÌNH MỪNG NĂM THÁNH 2000
Ðaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
"Mỗi một gia đình, một cách nào đó, phải dự phần vào việc sửa soạn cho cuộc Mừng Kỷ Niệm Long Trọng (The Great Jubilee)... Không phải hay sao, qua gia đình, gia đình Nazarét, mà Con Thiên Chúa đã chọn để đi vào lịch sử loài người". (đoạn 28)
Vậy, theo lời trên đây của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong Tông Thư Ngàn Năm Thứ Ba Ðang Ðến (Tertio Millennio Adveniente) được ngài ban hành vào cuối năm 1994 cũng chính là Năm Quốc Tế Gia Ðình, gia đình Kitô hữu Công Giáo "phải dự phần vào việc sửa soạn cho cuộc Mừng Kỷ Niệm Long Trọng (The Great Jubilee)" như thế nào, nếu không phải bằng những việc liên quan giữa gia đình và Năm Thánh như sau.
Mừng Năm Thánh 2000: Vợ Chồng Lập Lại Hôn Ước
Năm 2000 là năm Mừng Kỷ Niệm Long Trọng 2000 năm "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14), tức là năm Mừng Kỷ Niệm Long Trọng cuộc nhiệm hôn (xem Mathêu 22:2) hay cuộc Ngôi Hiệp (hypostatic union) của Thần Tính và Nhân Tính được thực hiện nơi Chúa Giêsu Kitô và được tỏ hiện khi Người Giáng Sinh. Chính vì cuộc nhiệm hôn của Lời Nhập Thể là thực tại hôn nhân của các cặp vợ chồng trong việc hoàn toàn "nên một xác thịt" (Khởi Nguyên 2:24), mà vợ chồng Kitô hữu nên, âm thầm song long trọng, lập lại hôn ước vào chính dịp kỷ niệm thành hôn của mình trong năm 2000, tại nơi mình đã làm lễ cưới (càng tốt, nếu có thể).
Trước Thánh Lễ lập lại hôn ước, hai vợ chồng nên giành ra một thời gian, (chẳng hạn, hẳn một ngày trước hay vài tiếng ngay trước Thánh Lễ), để tĩnh tâm riêng với nhau, lợi dụng thời gian qúi báu này, suy nghĩ về ơn gọi hôn nhân cao trọng của mình theo ánh sáng Mạc Khải thần linh. Vợ chồng cần phải đọc lại cho nhau nghe bài huấn dụ hôn nhân của Thánh Phaolô gửi tín hữu Êphêsô đoạn 5, từ câu 22 đến hết câu 33, rồi căn cứ vào bài huấn dụ Thánh Kinh ấy, kiểm điểm với nhau về đời sống vợ chồng, sau đó thành thực xin lỗi nhau nếu thấy mình thực sự lầm lỗi, sau hết cùng nhau hứa quyết sống trọn lành hơn, với những quyết định hết sức cụ thể và thực tế, đúng như mô phạm của hôn nhân toàn hảo là tình yêu nên một giữa Chúa Kitô và Giáo Hội. Trong Thánh Lễ, hai vợ chồng mỗi người âm thầm cùng một lúc lập lại lời hôn ước của mình vào giây phút rước lễ xuống. Sau Thánh Lễ, hai vợ chồng đến trước tòa Ðức Mẹ dâng mình cho Mẹ, sau đó cả nhà ăn mừng kỷ niệm thành hôn và tạ ơn Chúa ở tại nhà hay tại nhà hàng (tùy tiện).
Mừng Năm Thánh 2000: Cha Mẹ Con Cái Hòa Giải
Năm 2000 là một Ðại Năm Thánh, một "năm hồng ân của Chúa" (Isaia 61:1; Luca 4:19), thời điểm được Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II xác định trong Tông Thư Ngàn Năm Thứ Ba Ðang Ðến của ngài ban hành cuối năm 1994 là Năm Quốc Tế Gia Ðình:
"Ðối với Giáo Hội, thực sự việc mừng kỷ niệm chính là mừng năm hồng ân này của Thiên Chúa, một năm thứ tha các tội lỗi và các hình phạt bởi tội, một năm hòa giải tranh chấp giữa các phe phái, một năm cải thiện gấp bội và làm việc thống hối theo bí tích cũng như không theo bí tích" (đoạn 14).
Bởi vậy, để sống Năm Thánh 2000 là "một năm hòa giải tranh chấp" này, mỗi gia đình nên tìm một ngày nào đó ý nghĩa nhất trong năm, chẳng hạn ngày Lễ Trọng Kính Thánh Giuse (Chúa Nhật 19-3), hoặc Ngày Hiền Mẫu - Mother Day (Chúa Nhật thứ hai trong Tháng Năm) hay Ngày Thân Phụ - Father Day (Chúa Nhật thứ ba trong Tháng Sáu), hoặc ngày mừng sinh nhật của người cha hay người mẹ trong gia đình, họp nhau lại làm giờ hòa giải chung. Chương trình gồm có hai mục chính thức là nghe Lời Chúa rồi chia sẻ tâm tình giữa cha mẹ và con cái.
Về việc nghe Lời Chúa, tùy theo tình hình trong gia đình bấy giờ, có thể chọn những bài đọc Lời Chúa thích hợp như sau. Nếu cần hòa giải bất hòa giữa con cái với nhau, thì cha hay mẹ có thể đọc bài Cựu Ước trích trong Sách Khởi Nguyên đoạn 37, từ câu 12 đến hết câu 36 và đoạn 45 từ câu 1 đến hết câu 15, về việc Giuse bị anh em bán đi song vẫn vì Chúa tha cho họ. Nếu con cái bất mãn với cha mẹ, thì một trong số con cái nên đọc bài Thánh Kinh Cựu Ước cũng trích trong Sách Khởi Nguyên, đoạn 9, từ câu 1 đến hết câu 29, về việc thái độ của các con đối với ông bố là Noe say rượu nằm ngủ. Nếu cha mẹ trục trặc với con cái, thì cha hay mẹ nên đọc bài Phúc Âm theo Thánh Luca, đoạn 15 từ câu 11 đến hết câu 32, về dụ ngôn người cha nhân lành đối với đứa con hoang đàng.
Về việc hòa giải với nhau, cả cha mẹ lẫn con cái đều cần phải lấy lòng khiêm nhượng lắng nghe nhau. Con cái hãy nhớ rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa vô cùng khôn ngoan và trọn hảo mà còn vâng phục cha mẹ mình là Mẹ Maria và Bõ Giuse (xem Luca 2:51), thì họ cũng phải nghe lời răn dạy của cha mẹ là các vị đại diện Chúa để sinh thành dưỡng dục họ, dù những gì cha mẹ dạy bảo hay sai khiến hoặc cấm đoán có trái ý thích, ý nghĩ và ý muốn tự nhiên của mình, miễn là điều đó không có tội thật rõ ràng. Phần cha mẹ cũng phải kính trọng con cái là những con người cao qúi Chúa ban cho mình, là những nén bạc vô giá Ngài ký thác cho mình sinh lợi (xem Mathêu 25:14-30), và hết sức dưỡng dục chúng như Mẹ Maria và Thánh Giuse đối với Chúa Giêsu vậy; chẳng những tỏ ra luôn luôn thông cảm với những thiếu sót và yếu đuối của chúng, mà còn, nếu cần, cha mẹ đừng ngại xin lỗi con cái mình để phục hồi lòng tín cẩn và cảm phục của chúng là những gì hết sức thiết yếu cho việc đạt thành giáo dục. Cha mẹ phải làm sao để con cái có thể dễ dàng và thành thực cởi mở thì buổi hòa giải gia đình mới có kết qủa tốt đẹp. Nếu cần, cha mẹ hãy tự gợi ý cho con cái những gì chúng không dám nói ra, nhất là hãy tỏ ra sẵn sàng và rất muốn nghe tất cả những gì chúng nói để hiểu chúng hơn. Ðể kết thúc buổi gia đình hòa giải, cả nhà cầm tay nhau hát Kinh Hòa Bình.
Mừng Năm Thánh 2000: Gia Ðình Trau Dồi Ðức Tin
Ðể mở đầu cho loạt bài Giáo Lý Năm Thánh 2000, vào ngày thứ tư 19-11-1997, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã kêu gọi con cái mình như sau:
"Tôi đã xin tất cả mọi phần tử của Giáo Hội 'hãy mở lòng mình ra cho những khơi động của Thần Linh', để sửa soạn 'cử hành Cuộc Mừng Kỷ Niệm với một đức tin mới mẻ và một sự tham gia bao rộng' (Tông Thư Ngàn Năm Thứ Ba Ðang Ðến, đoạn 59). Lời kêu mời này càng ngày càng trở nên khẩn thiết hơn khi ngày lịch sử đó đang tiến tới. Thật vậy, biến cố này diễn ra như một lằn mức phân chia giữa hai thiên niên với một giai đoạn mới đang bừng lên tương lai của Giáo Hội cũng như của nhân loại. Chúng ta phải sửa soạn cho biến cố này trong ánh sáng của đức tin. Ðúng thế, đối với các tín hữu, cuộc vượt qua từ đệ nhị sang đệ tam thiên niên không phải chỉ là một chặng đường trong cuộc tiến hành không ngừng nghỉ của thời gian, mà còn là một dịp đáng kể để nhận thức rõ hơn dự án của Thiên Chúa đang giãi bày trong lịch sử của loài người". (tuần san L'Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ, ngày 26-11-1997; những chỗ in đậm là do người viết có ý nhấn mạnh hơn).
Như thế, từ phương diện tiêu cực là việc cải thiện đời sống để có thể tối đa lãnh hưởng tình thương của Thiên Chúa trong Thời Ðiểm Hồng Ân, Kitô hữu đã tiến thẳng vào chính trọng tâm của Thời Ðiểm Hồng Ân, một trọng tâm mà Ðức Thánh Cha đã nhắc lại và nhấn mạnh trong bài Giáo Lý Năm Thánh 2000 ngày 18/3/1998 như sau:
"Mục tiêu chính yếu của Cuộc Mừng Kỷ Niệm, đó là 'việc kiên cường đức tin cũng như kiên cường chứng tá của Kitô hữu' (Tông Thư Ngàn Năm Thứ Ba Ðang Ðến, đoạn 42)" (tuần san L'Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ, ngày 25-3-1998).
Vậy, là một Giáo Hội tại gia (Ecclesia domestica), gia đình cũng phải là môi trường truyền bá phúc âm trước nhất. Việc truyền bá phúc âm trong gia đình này là việc của bậc làm cha làm mẹ. Không phải chỉ cần lo cho con cái có đủ cơm ăn, áo mặc, nhà ở, đến trường v.v. là xong phận sự của thành phần cha mẹ Kitô hữu Công Giáo. Cũng không phải dạy con cái thuộc các kinh căn bản cần thiết, bắt chúng đọc kinh hằng ngày và đi học giáo lý hằng tuần là đủ. Cha mẹ cần phải bỏ giờ ra đích thân dạy giáo lý (hay ít là xem con cái học giáo lý đến đâu và học được những gì), không nên khoán trắng cho học đường hay thày cô muốn dạy sao thì dạy, miễn là con mình được chịu phép bí tích cần là xong. Nếu thấy mình chưa đủ kiến thức về giáo lý, hãy bỏ giờ ra học thêm, bằng cách đọc sách hay tìm hiểu nơi các vị chủ chăn hoặc các chuyên viên giáo lý.
Mỗi gia đình nên lợi dụng thời điểm Năm Thánh 2000 để bắt đầu chương trình chia sẻ Lời Chúa hằng ngày, vào trước mỗi buổi kinh tối trong gia đình. Giờ kinh tối các ngày trong tuần (trừ cuối tuần) của chung gia đình nên vắn tắt hơn, nếu quyết định thêm giờ chia sẻ bài đọc Phúc Âm theo phụng vụ Lời Chúa của Thánh Lễ hằng ngày, (cha mẹ muốn đọc kinh hơn nữa thì nên đọc riêng sau đó hay vào lúc nào đó trong ngày). Cuối tuần, rảnh rỗi hơn, cả nhà nên thêm giờ đọc sách thiêng liêng chung, như đọc truyện các thánh, hoặc đọc riêng song chia sẻ chung vào trước giờ kinh tối chẳng hạn.
"Thật vậy, gia đình Kitô giáo là cộng đoàn đầu tiên được kêu gọi để loan báo Phúc Âm cho con người trong thời kỳ họ phát triển và làm cho họ là nam hay nữ đạt đến tầm mức trưởng thành về nhân bản cũng như về Kitô giáo qua việc triển khai giáo dục và giáo lý" (Lời Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Tông Huấn Fa mi liari s Cons ortio về vai trò của gia đình Kitô giáo trong thế giới tân tiến, đoạn 2)
Gia đình Kitô hữu Công Giáo chúng ta có mừng Năm Thánh 2000 một cách đặc biệt như thế, giữa vợ chồng với nhau, cha mẹ với con cái, nhất là chung cả gia đình như thế, chúng ta mới có thể tiến vào ngàn năm thứ ba Kitô giáo đúng với những gì Giáo Hội mong đợi, qua lời Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II viết cũng trong Tông Huấn vừa được trích dẫn trên:
". Gia đình như là một 'Giáo Hội thu nhỏ' (Church in miniature), ở chỗ, theo cách thế riêng của mình, gia đình là hình ảnh sống động và là biểu hiện lịch sử của mầu nhiệm Giáo Hội. Gia đình được tháp nhập vào mầu nhiệm Giáo Hội đến nỗi trở nên, theo cách thế của mình, một tham dự viên vào sứ mệnh cứu độ riêng của Giáo Hội. Vì lý do này, họ (vợ chồng và cha mẹ Kitô hữu) chẳng những lãnh nhận tình yêu của Chúa Kitô và trở nên một cộng đoàn được cứu độ, mà còn được kêu gọi để truyền đạt tình yêu của Chúa Kitô cho anh em mình nữa, nhờ đó trở nên một cộng đoàn cứu độ. Như thế, trong khi gia đình Kitô hữu là hoa trái và là dấu hiệu của sinh lực dồi dào nơi Giáo Hội thì nó cũng làm tiêu biểu, chứng từ và tham phần vào vai trò làm mẹ của Giáo Hội". (đoạn 49)
Tổng Giáo Phận Los Angeles 14-4-1999
Ðaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

Thứ Hai, 26 tháng 2, 2018

GIA ÐÌNH, TRƯỜNG DẠY YÊU THƯƠNG

GIA ÐÌNH, TRƯỜNG DẠYYÊU THƯƠNG

Hội Thánh mừng lễ Thánh Gia như là gương mẫu của các gia đình Công Giáo. Thú thật, tôi thấy Hội Thánh hơi bạo gan khi đưa Chúa Giêsu, thánh Maria và thánh Giuse như một mẫu mực vì Thánh Gia không phải như những gia đình khác. Ðức Giêsu là con người nhưng cũng là ConThiên Chúa. Ðức Maria thụ thai Con Thiên Chúa không bởi ý muốn của nam nhân nhưng do tác động của Thánh Thần nên cứ giữ mình trinh khiết đến mãn đời vợ chồng. Còn Ðức Giuse thì thật là anh hùng khi đón nhận một thai nhi mà mình không phải là tác giả, cưới vợ mà như không cưới. Thế thì còn gì là hấp dẫn của đời sống lứa đôi, và nếu cứ phải theo gương Thánh Gia sống như vậy thì thà ở vậy còn thích hơn. Có chăng chỉ là để tôn thờ Thánh Gia, chứ chẳng phải để bắt chước mà sống như vậy đâu !

Tuy nhiên, Thánh Gia vẫn là một gia đình đích thực, và mọi thành phần trong gia đình ấy đều tìm thấy hạnh phúc. Bí quyết nào đã giúp các ngài tìm thấy hạnh phúc nếu không phải là tình yêu. Chính vì yêu mến mà Maria và Giuse đã tiến tới hôn nhân dù khó khăn và thử thách không phải là ít. Chính trong môi truờng gia đình mà hai ngài đã học cách yêu thương nhau, và đã làm cho tình yêu ấy thực sự đơm bông kết trái. Vì thế tôi muốn chia sẻ với quý anh chị là những gia đình trẻ về đề tài: "Gia đình là trường học dạy yêu thương".

Nếu nói gia đình là trường học thì không hẳn cha mẹ là thầy cô, còn con cái là học trò. Cha mẹ vừa là người thầy, vừa là môn sinh, đặc biệt trong môn học về tình yêu. Bởi lẽ sống là yêu và yêu là cả một nghệ thuật cần được học hỏi và trau dồi suốt đời.

1) Học ăn học nói học gói học mở, và học cả chữ yêu:
Chữ nhân theo kiểu chữ Hán Việt là nét vẽ một người đang dang tay dang chân, nghĩa là một con người hoạt động, con người đang làm việc. Như vậy, con người không phải là cái đã làm sẵn, đã thành toàn, nhưng là cái phải làm nữa thì mới thành: thành nhân, phải cố gắng nữa thì mới nên người: có chí thì nên. Hoạt động để thành công, nhưng thành công cũng chưa phải là quan trọng: không thành công thì cũng thành nhân.

Từ lúc chào đời đến lúc từ biệt cõi đời, chúng ta giống như người tạc tượng, phải không ngừng đục đẽo mình cho ra hình dáng con người, bởi vì chúng ta sinh ra không phải tự nhiên đã thành nhân, việc thành nhân hay nên người là việc mỗi người phải tự mình làm lấy, người khác chỉ có thể hướng dẫn hay chỉ cách mà thôi. Ngày sinh nhật hay ngày kết hôn cũng mới chỉ là bản phác thảo, mỗi ngày chúng ta còn phải vẽ đi uốn lại cuộc đời mình. Ngày chết cũng vẫn còn dang dở, và Thiên Chúa sẽ hoàn tất cái dang dở này để chúng ta không còn điểm gì khác Chúa nữa.

Yêu không phải là một vấn đề thuần tuý bản năng, giống như mọi thú vật khác. Ai trong chúng ta cũng biết rằng một hành động thuần tuý là bản năng chưa phải là tình yêu, vì chúng ta không thể đồng hoá tình yêu với tính dục. Vấn đề không phải chỉ là đạt được khoái cảm, song còn là trao ban và chuyển đạt tình yêu cho nhau.

Có một tác giả nói rằng con người thời nay thích học bay như chim trời khi chế tạo được máy bay phản lực, mải mê bơi lặn như cá dưới nước khi chế tạo ra tầu thuỷ tầu ngầm, song chẳng mấy người chịu học bài học cơ bản là học chung sống với mọi người chung quanh mình.

Gia đình là trường học đầu tiên về yêu thương, và nếu gia đình tan vỡ thì biết tìm học ở đâu bài học cơ bản ấy. Bài học vỡ lòng về yêu thương không những khởi đầu trong gia đình mà còn lập lại trong suốt cuộc đời. Yêu thương là một khởi đầu không bao giờ kết thúc vì tình yêu luôn là một cuộc tái sinh. Tình yêu không bao giờ chấp nhận cũ kỹ hao mòn, vì thế luôn luôn phải đổi mới. Ðổi mới bằng cách nào nếu không phải là quên mình để sống cho người mình yêu thương. Bởi lẽ tình yêu như dòng nước chảy, luôn luôn tuôn trào, không bao giờ giữ lại. Nếu dòng sông giữ lại nước thì dòng sông đã biến thành ao tù nước đọng, và ô nhiễm là chuyện không thể tránh khỏi.

Nhà văn hào Pháp, Victor Hugo, đã nói một câu mới nghe có vẻ khó chấp nhận: "Người ta không lấy nhau vì yêu nhau, mà lấy nhau để học yêu nhau". Song những ai đã bước vào đời sống hôn nhân thì không thể phủ nhận thực tế đó. Ngày cưới cũng mới chỉ là ngày khai giảng của trường học yêu thương, và bài học cơ bản là học sống với người khác. Khởi điểm của tình yêu có thể là những tương đồng vì đôi bạn có nhiều điểm giống nhau, nhưng khi đã chung sống thì những tương đồng cứ biến dần nhường chỗ cho những khác biệt và xung khắc.

Có người bi quan nòi rằng:
"Tình chỉ đẹp khi còn dang dở,
đời mất vui khi đã vẹn câu thề".
Hai câu thơ trên của Hồ Dzếnh còn được chế thêm rằng:
"Tình chỉ đẹp khi còn dang dở,
lấy nhau về nham nhở lắm em ơi!".
Song mấy bà cũng không vừa:
"Tình chỉ đẹp khi còn dang dở,
lấy nhau về em tắt thở, anh ơi!".
Nếu thế, hôn nhân là mồ chôn của tình yêu. Người ta cưới nhau không phải là chỉ cưới một khuôn mặt đẹp, một nụ cười duyên, một mái tóc óng ả, hay một sở thích tương đồng nhưng là cưới cả một con người, mà người nào chả có cái tốt cái xấu, cái được cái không được, cái dễ ưa và cái khó ưa. Có chấp nhận nhau thì hôn nhân mới là môi sinh của tình yêu.

2) Học yêu là học cho đến cùng chữ yêu:
Học để yêu là bài học không bao giờ dừng lại với thời gian, cho dù đã là vợ chồng của nhau, bởi lẽ mỗi người vẫn luôn là một huyền nhiệm thâm sâu, một huyền nhiệm không dễ dàng lý giải mà chỉ có sự hiểu biết của con tim tấm lòng mới hy vọng đạt thấu.

Sam Levenson nói: "Ngó một cái mà thương liền là còn dễ. Ngó mặt nhau cả đời mà vẫn còn yêu nhau mới là khó. Nó cả là một phép lạ". Vì thế, có người cho rằng "tìm hiểu nhau ba tuần, yêu nhau ba tháng, cãi nhau ba năm, nhưng sẽ phải tha thứ cho nhau ba mươi năm"...

Tình yêu là chết đi đối với chính mình, là nộp mình như Chúa Giêsu đã hy sinh tính mạng vì người mình yêu thương. Yêu người là muốn người đó được sống và sống dồi dào, chứ không phải là lấn lướt để người đó thua kém đi. Sức mạnh của tình yêu là như thế đó ! Làm tất cả những gì có thể làm, song không bao giờ ép buộc người mình yêu. Như vậy, phải mạnh mẽ lắm mới có thể quên mình, để tha thứ. Có thể gọi sự toàn năng của tình yêu là sự tha thứ; và Thiên Chúa chính là nguyên mẫu vì Thiên Chúa là Tình Yêu (1Ga 4,8). Hordelin, một thi sĩ người Ðức, đã nói: "Thiên Chúa giáng sinh làm người giống như biển cả làm nên đất liền bằng cách rút lại". Ðại dương thật mênh mông, muốn có đại lục thì chỉ còn cách là biển cả phải thu hẹp, nhường chỗ cho đất liền nhô lên khỏi biển. Thiên Chúa giáng sinh làm người là Thiên Chúa không cứ giữ cho mình chức vị đồng hàng với Chúa Cha, song đã tự huỷ mình ra không để trở nên giống phàm nhân (Philíp 2,6-7), và chấp nhận để cho con người tuỳ nghi sử dụng, đến nỗi không có chỗ cho Ngài trong quán trọ (lc 2,7), thậm chí còn bi đát đến nỗi Ngài đến nhà của mình mà người nhà lại không tiếp nhận (Ga 1,11).

Hôn nhân làm cho vợ trở thành nha của chồng, và chồng là nhà của vợ, nên người ta hay gọi là nhà tôi. Thế mà khi cả hai đã nên một trong thân xác, người ta lại thích lui tới nhà khác chứ không phải là nhà tôi. Có người chia sẻ với tôi: "Thưa cha, mỗi khi con ra khỏi nhà là chỉ muốn đi luôn, nếu không nghĩ tới con cái thì con đã không trở về nhà, dù đó là nhà của mình". Tại sao vậy? Chỉ vì căn nhà ấy không còn chỗ cho tình yêu; chỉ vì sự tha thứ không còn chỗ trong quán trọ nên đã phải lang thang ngoài đồng vắng nơi những hang bò lừa qua đêm.

Các bạn cứ nhìn vào Thánh Gia mà coi xem ngôi nhà của các ngài là gì? Dù không có nhà cao cửa rộng, giường ấm nệm êm, song gia đình Nagiarét không phải là quán vắng tình yêu. Maria đang lúc ở cữ lại phải rời bỏ căn nhà Nagiarét để lên đường vì lệnh kiểm tra dân số. Mới qua được những cơn gió lạnh ngoài hang bò lừa để tìm được một chỗ trú thân thì lại phải bỏ đi Ai Cập vì sự an toàn của hài nhi Giêsu. Mới kiếm được một công ăn việc làm nơi đất khách quê người, thế mà lại phải trở về Nagiarét để làm lại từ đầu. Vậy thì nha của các ngài là gì, nếu không phải là tâm hồn của nhau. Chỉ có ngôi nhà tình yêu ấy mới không bị đóng khung bởi bốn bức tường, mới không bị lún sập khi biển đời dồn dập sóng vỗ. Trong xây dựng, người ta hay nói tới bê-tông vĩnh cửu, tôi xin đính chính ngay: không có bê-tông vĩnh cữu cho căn nhà của tình yêu, vì với thời gian, sự dãn nở của sắt ích kỷ cũng có thể phá vỡ bê-tông khi thời tiết thay đổi. Bởi đó, tình yêu con người không bao giờ là tình yêu một mùa, dù là mùa Xuân. "Bốn mùa thay lá thay hoa, thay mãi đời ta"; và dù lá mùa Thu có rơi rụng giữa mùa Ðông thì cũng đừng tuyệt vọng, tôi ơi, đừng tuyệt vọng. Và điều đó chỉ xảy ra khi nào vợ chồng có thể nói với nhau: "Em là tôi, và tôi cũng là em" (Tôi ơi đừng tuyệt vọng, TCS), nghĩa là cuối cùng của tình yêu là tha thứ.

* * *

Ngày lễ Thánh Gia được gọi là ngày lễ của gia đình, hoặc ngày 14 tháng Hai hàng năm được chọn là ngày của tình yêu, song có phải mỗi năm chỉ có một hoặc hai ngày để yêu nhau không? Có ngày nào không phải yêu thương nhau? Có giây phút nào không phải là giây phút của tình yêu? Có chăng ngày lễ chỉ cốt để nhắc nhớ đôi bạn: sống là yêu, và yêu là phải quên mình để sống cho người mình yêu, và quên mình thì đồng nghĩa với từ bỏ và hy sinh, với việc vác thập giá mình mà sánh bước bên nhau đi về một hướng. Hướng đó là Thiên Chúa Tình Yêu.

Có người nói rằng cái tôi là cái đáng ghét. Tại sao vậy? Rất đơn giản: nếu bạn để cho cán cân hôn nhân nặng về cái tôi, thì bạn cứ thử đánh vần coi: tôi nặng... tội. Tuy nhiên, nếu bạn nhường chỗ cho Thiên Chúa thì hôn nhân và gia đình luôn là điều thiện hảo tốt đẹp vì khi đó: Thiên nặng ... thiện.

Tại sao Thánh Kinh có tên gọi là “Thánh Kinh?”

Dù con số thống kê có thay đổi từ số này qua số kia thì quyển Thánh Kinh vẫn là quyển sách được bán nhiều nhất và được phân phối nhiều nhất trên thế giới. Được dịch ra gần như hầu hết các ngôn ngữ, Thánh Kinh là quyển sách đầu tiên được in ra và là một tác phẩm hoàn vũ. Gần như ai cũng có một quyển Thánh Kinh và cũng đọc một vài đoạm nhưng ít ai biết nguồn gốc tên của nó.
Tiếng Pháp là “bible” đến từ chữ la-tinh là “biblia”, chữ biblia đến từ chữ Hy Lạp biblion(βιβλίον) có nghĩa đơn giản là “sách”. Có thể từ rất sớm, ngay từ thế kỷ thứ 3, Sách Thánh đã được các tín hữu kitô thâu thập lại với tên Hy Lạp Ta Biblia (τὰ βιβλία), một chữ theo số nhiều, có nghĩa là “các quyển sách”. Qua dòng thế kỷ, hai thành ngữ được dùng song song để chỉ Sách Thánh: biblia sacra (sách thánh) tiếng la-tinh và biblia to hagia(sách thánh) tiếng Hy Lạp.
Cũng hơi lạ, một quyển sách thiêng liêng như quyển Thánh Kinh lại mang một cái tên tầm thường. Tuy nhiên phải nhớ lại nguồn gốc của nó, việc gọi tên này là để cho thấy Sách Thánh không phải là một quyển sách như các sách khác, nhưng là quyển sách tiêu biểu. Đó là quyển sách giữa các sách, quyển sách lớn nhất.
Chữ biblia mang số nhiều trong tiếng la-tinh và Hy Lạp nhưng qua tiếng Pháp thì lại mang số ít để chỉ định, đây là quyển sách chính nó gom lại của nhiều sách khác. Người công giáo nhìn nhận 73 quyển, đi từ sách Sáng Thế đến sách Khải Huyền. Như thế chỉ một mình quyển Thánh Kinh đã tự nó là một thư viện!
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch


Thứ Bảy, 24 tháng 2, 2018

NGHỆ THUẬT LÀM CHA MẸ

NGHỆ THUẬT LÀM CHA MẸ

Chúng ta thường được giáo dục để trở nên những đứa con tốt trong gia đình, nhưng rất ít khi chúng ta được giáo dục để trở nên những cha mẹ tốt. Ở trường học, chúng ta học rất nhiều môn, nhưng không môn nào dạy ta nghệ thuật làm cha mẹ, là nghệ thuật mà ta phải áp dụng suốt cả cuộc đời kể từ khi có con, đồng thời cũng là một nghệ thuật hết sức quan trọng cho hạnh phúc của ta cũng như cho tương lai con cái ta. Vì thế, đa số nhân loại khi lên làm cha mẹ đã không biết phải đóng vai trò đó thế nào cho sáng suốt. Thường thì chỉ khi đã làm cha mẹ chúng ta mới bắt đầu học nghệ thuật ấy, học theo kiểu nghề dạy nghề, tự học, học cách mò mẫm, phải tự suy nghĩ để tìm ra phương pháp. Cũng có những sách nói về nghệ thuật này, nhưng không nhiều.
Trong ý hướng giúp các bậc cha mẹ nắm vững hơn nghệ thuật này, chúng tôi xin đưa ra một số suy tư hay ý kiến góp phần xây dựng. Sau đây là 10 đề nghị, hay nói khác đi là 10 điều tâm niệm của các bậc cha mẹ.

1.      Đã là người đương nhiên bất toàn
Ngoài Thiên Chúa ra, không có ai hoàn hảo cả. Vì thế, ta đừng đòi hỏi con cái ta phải hoàn hảo, phải làm ta hài lòng. Chính ta, trong quá khứ cũng như hiện tại, ta có hoàn toàn làm hài lòng cha mẹ ta đâu ! Chính ta cũng bất toàn. Tuy nhiên, vì tính cách sư phạm, ta có thể tỏ ra đòi hỏi con cái chút ít để chúng cố gắng hơn. Cùng là thân phận con người yếu đuối như nhau, ta nên thông cảm với những tật xấu, những khuyết điểm của con cái. Ta phải tập biết hài lòng về những cố gắng của con cái mình, về mức độ tốt đẹp mà chúng đã từng nỗ lực để đạt được.

2.      Đừng kỳ vọng về con cái quá mức
Ai cũng có giới hạn của mình, dù có cố gắng lắm cũng khó vượt qua giới hạn ấy. Điều quan trọng là biết được đâu là giới hạn của con cái mình để tôn trọng giới hạn đó, để đặt ra mục tiêu thích hợp bắt chúng đạt tới. Thông thường, khi có con, ai cũng kỳ vọng con mình phải thành người thế này thế kia. Ta mong con ta hơn ta, và saün sàng hy sinh tất cả để con ta đạt được những gì ta kỳ vọng nơi chúng. Nhưng trong hầu hết các trường hợp, những kỳ vọng đó vượt quá khả năng thực hiện của chúng. Có thể chúng không có nhiều tài năng và nghị lực bẩm sinh như ta, có thể chúng có khuynh hướng khác với ta. Ta không nên lấy mình làm khuôn mẫu để ép con cái phải như mình. Đặt lý tưởng quá cao cho con cái dễ làm cho chúng có mặc cảm tự ty và buồn phiền nếu chúng không thể đạt tới được, đồng thời dễ làm ta thất vọng và chán nản về chúng.

3.      Chấp nhận con cái, cầu nguyện cho chúng
Chấp nhận con cái không có nghĩa là không bắt chúng nỗ lực để nên tốt đẹp hơn, mà là chấp nhận mức độ chúng đạt được sau khi ta đã nỗ lực tạo đủ mọi điều kiện để chúng tốt đẹp hơn và chính chúng cũng đã cố gắng. Đừng ép con cái mình phải giống hay bắt chước một trẻ em khác : trên đời này không thể có hai đứa trẻ giống nhau. Để chấp nhận trẻ, ta phải biết đặt mình vào địa vị của trẻ và nhìn theo quan điểm của chúng. Đừng bắt chúng nhìn theo quan điểm của ta. Tích cực hơn, ta nên cầu nguyện cho chúng, xin Thiên Chúa ban thêm sức mạnh để chúng có khả năng cố gắng nhiều hơn nữa. Chỉ có Thiên Chúa mới có khả năng biến đổi tâm hồn chúng.

4.      Dành thì giờ để đối thoại với con cái
Nên bỏ ra mỗi ngày ít nhất 15 hay 30 phút để tiếp xúc với con cái, để nói chuyện, tìm hiểu chúng, trao đổi tư tưởng, cảm nghĩ và tâm tình với chúng. Giờ rất thuận tiện là các bữa ăn. Phải lắng nghe chúng nói, khuyến khích chúng bày tỏ những điều chúng nghĩ trong đầu, chứ không phải chỉ biết bắt chúng nghe mình thôi. Đồng thời phải biết phản ứng kịp thời và thích hợp với những gì chúng biểu lộ : vui, buồn, ngạc nhiên, sửa sai, bất đồng, tán thành, khuyến khích... Phải luôn luôn nắm được tư tưởng và ý muốn của chúng. Phải tập trò chuyện với chúng như với bạn bè, nhất là khi chúng đã lớn, khoảng 10 tuổi trở lên. Đừng để chúng hư lúc nào ta không biết.

5.      Cố gắng tạo quan hệ tình cảm với con cái
Con cái ta rất cần được yêu thương, khuyến khích, hỗ trợ để chúng có thể phát triển. Do đó, ta phải làm sao để chúng cảm nhận được tình thương của ta. Cần phải biểu lộ tình thương của ta ra bên ngoài, qua ánh mắt, qua những cử chỉ âu yếm, những lời nói ngọt ngào, những hy sinh cụ thể và thường xuyên của ta. Càng nhỏ, chúng càng nhạy cảm với tình thương của ta. Chúng cần tình thương để lớn lên và phát triển cũng như cần cơm bánh. Đừng dấu tình thương trong lòng mà phải biểu lộ ra ngoài. Đừng chỉ yêu thương bằng khối óc dù rất cần thiết, mà còn phải yêu thương bằng con tim nữa.

6.      Phải làm sao cho con cái tin tưởng nơi ta
Trẻ cảm thấy cần được bảo đảm tốt đẹp về mọi phương diện : vật chất cũng như tinh thần. Chúng mong tìm được những bảo đảm đó nơi cha mẹ chúng. Vì thế, ta phải trở nên chỗ dựa vững chắc cho chúng về mọi mặt. Phải sống làm sao để chúng có thể cảm thấy an tâm : mọi lời ta nói phải đúng để chúng tin tưởng, mọi việc ta làm phải tốt để chúng bắt chước. Phải làm sao để chúng tin vào tình yêu, sự thành thật, khả năng hy sinh và sự cao thượng của ta. Ta muốn con cái ta tốt tới mức nào thì ít ra ta phải sống tốt tới mức đó. Hành động của ta - tốt hay xấu - ảnh hưởng tới con cái ta tới mức độ ta không ngờ.

7.      Đồng hành với con cái trên đường tiến tới hoàn mỹ
Tuy nhiên ta không nên tự thần tượng hóa mình trước mặt con cái. Tới một lúc nào đó ta phải cho chúng thấy rằng chính ta cũng là người bất toàn đang nỗ lực tiến tới trưởng thành, hoàn thiện và nên thánh. Ta chỉ là người đi trước có nhiệm vụ dẫn dắt chúng trong những bước đầu cuộc đời chúng, đưa chúng đi vào đời sống thần linh (với Thiên Chúa) và nhân bản (với bản thân và người khác). Và sau này chính ta cũng nên saün sàng nhận lại sự nâng đỡ của chúng. Cần phải khiêm tốn nhận những khuyết điểm của chính mình. Trên đườøng tiến tới hoàn thiện, ta hãy biến chúng thành những người bạn đồng hành và cho phép chúng được coi lại ta như thế, đồng thời chấp nhận sự xây dựng của chúng. Như thế chúng sẽ tự tin và dễ trưởng thành hơn.

8.      Phải tôn trọng phẩm giá của con cái
Con cái ta là người, chúng có quyền và rất cần được đối xử như những con người, như con cái của Thiên Chúa. Đừng xử với chúng như nô lệ hay đầy tớ trong nhà. Hãy tôn trọng tự do của chúng, đừng cấm đoán chúng những gì ta xét thấy vô hại. Cũng nên tôn trọng giờ làm việc, giờ ngủ và thì giờ của chúng một cách vừa phải. Nếu cần phải sửa phạt thì nên sửa phạt đúng mức, hợp lý, đừng đánh đập chúng quá đáng hoặc chửi rủa chúng những câu thậm tệ, như Đồ quỉ!Đồ chó má!Con đĩ!, xúc phạm tới phẩm giá hoặc làm tổn thương tự ái chúng quá mức cần thiết. Đừng bêu xấu con trước mặt người khác hoặc những trẻ em khác. Có tôn trọng chúng thì chúng mới biết tự trọng và tự tin.

9.      Khai phóng cho con cái
Khi còn nhỏ, con cái ta lệ thuộc ta mọi mặt. Lúc đó, ta phải bắt chúng vâng lời, làm theo ý ta để chúng đi đúng đường. Nhưng ta phải huấn luyện và giáo dục chúng làm sao để dần dần chúng trưởng thành, có khả năng tự do và tự lập về mọi mặt. Đừng bắt chúng cứ phải lệ thuộc ta mãi, cứ phải theo ý muốn của ta hoài. Đó cũng là cách để ta tự giải phóng chính mình. Nên ý thức rằng con cái ta không phải là của ta mãi, mà là của cuộc đời. Muốn chúng lệ thuộc ta mãi đó là ý muốn của những cha mẹ còn non nớt. Cần phải biết biến chúng thành những người bạn mà xét về nhiều mặt là ngang hàng với mình. Có như thế chúng mới dễ phát triển và trưởng thành.

10.    Trao cho chúng trách nhiệm
Phải tập cho con cái tinh thần trách nhiệm ngay từ hồi chúng còn nhỏ bằng cách trao cho chúng những trách nhiệm từ dễ đến khó, từ nhỏ đến to trong gia đình. Phải tập cho con cái dần dần quán xuyến được mọi việc. Và khi chúng đã lớn, khoảng 20- 25 tuổi, phải tập cho chúng làm những công việc có tầm vóc xã hội : làm ăn, giao thiệp, nhận trách nhiệm nghề nghiệp, điều hành công việc... Phải tập cho chúng làm được hầu hết những công việc của mình, thậm chí có thể thay thế mình trong địa vị của mình.

Hãy bắt chước các nhà vua của ta ngày xưa biết nhường ngôi cho con ngay khi chúng tạm đủ tư cách thay thế mình giải quyết mọi việc, còn mình thì đứng đằng sau hướng dẫn, cố vấn, làm thái thượng hoàng. Tại nhiều nước đang phát triển mạnh, các giám đốc công ty, xí nghiệp, thậm chí các bộ trưởng... đa số thuộc giới trẻ (25- 40 tuổi) rất năng nổ hoạt động. Người ta không sợ họ đi quá lố vì đằng sau những người trẻ ấy còn có cha mẹ của họ cố vấn, chỉ đạo và hỗ trợ họ. Nhờ vậy, đất nước của họ tiến bộ rất mau.

Trong gia đình, chúng ta cũng nên sớm giao trọng trách cho con cái đang khi chúng ta còn có thể đứng sau để hướng dẫn giúp đỡ. Đừng để tới lúc ta không còn làm được gì nữa mới nhường trách nhiệm cho chúng. Tới lúc đó chúng mới tập sự làm việc thì đã hơi muộn, nên sẽ ít hữu hiệu và mắc nhiều sai lầm.

Kết luận
Thế hệ con cái của chúng ta có đức hạnh và tài năng hay không tùy thuộc vào sự giáo dục chúng nhận được từ cha mẹ chúng rất nhiều. Vì thế, ta cần phải giáo dục chúng một cách khôn ngoan sáng suốt. Đừng phó mặc công việc quan trọng này cho may rủi, cũng đừng làm một cách tùy tiện, thiếu suy nghĩ. Hãy lắng nghe thế hệ của chúng ta đang lên tiếng : Hãy giáo dục chúng tôi cho tử tế, chúng tôi sẽ biến xã hội và thế giới này thành thiên đường. Và một điều rất quan trọng là hãy cầu nguyện cho chúng, xin Thiên Chúa chúc lành, bảo vệ và thánh hóa 

Thứ Sáu, 23 tháng 2, 2018

ƠN GỌI CỦA ADONG LÀ LÀM CHỒNG

"Bỏ Cha Mẹ Gắn Bó Với Vợ"'?

Thân phận của một người con gái lớn lấy chồng, theo Khổng Giáo, là "xuất giá tòng phu", tức là, theo ngôn ngữ bình dân Việt Nam, "lấy chồng thì phải theo chồng". Văn hóa này dường như cũng là văn hóa chung, là đường lối chung của nhân loại, chỉ trừ ở một vài nơi còn theo chế độ mẫu hệ, như nhóm người Thượng ở Di Linh Việt Nam chẳng hạn, còn "đi bắt chồng" và chồng phải về ở với vợ. Tục lệ Do Thái cũng chủ trương "lấy chồng thì phải theo chồng" như văn hóa Việt Nam. Chẳng hạn trường hợp của Tôbia con đi lấy vợ và dẫn vợ về với mình (xem Tobia 9:7-14), hay trường hợp của Thánh Giuse và Mẹ Maria, như Phúc Âm thánh Luca thuật lại, sau khi Thánh Giuse được thiên thần cho biết việc Mẹ Maria thụ thai bởi Chúa Thánh Thần, thì "ngài đã làm như thiên thần Chúa chỉ dẫn và lãnh nhận Mẹ về nhà làm bạn mình" (1:24).

Thế mà, theo Sách Khởi Nguyên, ngay từ ban đầu, sau khi con người được dựng nên có nam có nữ, và sau khi con người nhận ra xương thịt của mình nơi đồng bạn xứng hợp với mình, thì Thánh Kinh mạc khải cho biết: "Ðó là lý do tại sao người nam lìa bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình" (Gn.2:24). Nếu "người nam lìa bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình" như thế thì ở đây chồng theo vợ chứ đâu có phải là vợ theo chồng! Vậy thì văn hóa hôn nhân của chung con người từ trước đến nay đã đi ngược lại với ý định của Thiên Chúa rồi sao? Những bàn giải sau đây sẽ làm sáng tỏ vấn đề này.

Trước hết, cũng theo Sách Khởi Nguyên, đoạn 2, nếu Thiên Chúa dựng nên người nữ từ con người đầu tiên tự bẩm sinh mang nam tính là Adong, và mục đích Thiên Chúa dựng nên người nữ cho con người mang nam tính là để người nữ trở thành một đồng bạn xứng hợp với con người tự bẩm sinh mang nam tính sống một mình không tốt, thì với tư cách làm vợ của mình, tức làm đồng bạn xứng hợp của người nam, người nữ thuộc về người nam và phải theo người nam là chồng của mình.

Sau nữa, Sách Khởi Nguyên nói về việc con người nam nhân làm chồng đây "lìa bỏ cha mẹ", trong khi Adong không hề được sinh ra bởi một cha mẹ nào, mà là được chính Thiên Chúa tạo thành từ bụi đất và bằng hơi thở thần linh của Ngài. Bởi vậy, việc con người nam nhân làm chồng "lìa bỏ cha mẹ" đây không có nghĩa đen là theo vợ, về ở với vợ, như trường hợp vợ theo chồng và về ở với chồng vẫn thấy nơi trường hợp của người nữ làm vợ từ trước đến nay. Ðúng hơn, việc con người nam nhân làm chồng "lìa bỏ cha mẹ" đây là việc họ theo ơn gọi làm chồng của mình, như nam nữ theo ơn Chúa gọi thì bỏ nhà đi tu, hay như trường hợp Abram theo ơn Chúa gọi thì rời bỏ quê cha đất tổ để đi đến nơi Chúa chỉ cho (xem Gn.12:1). Vậy ơn gọi làm chồng của con người nam nhân đây là gì, nếu không phải là, như Sách Khởi Nguyên, ngay sau khi nói về việc Adong "lìa bỏ cha mẹ", liền nói "gắn bó với vợ mình".

Phải, ơn gọi của người làm chồng đó là "gắn bó với vợ mình". Không phải hay sao, ơn gọi làm chồng này, theo tự nhiên, đã gắn liền với con người mang nam tính? Ở chỗ, khi còn "ở một mình không tốt", tức là khi tới tuổi dậy thì mà còn độc thân, nam nhân tự nhiên như luôn luôn bị thúc đẩy, hay nói cách khác, vốn có khuynh hướng tìm kiếm "xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi". Việc nam nhân tìm kiếm nữ giới, qua việc đi "cua", "tán", "theo" phái đẹp đây không phải là dấu hiệu chứng tỏ ơn gọi "gắn bó với vợ mình" khi lập gia đình hay sao?

"Nên Một Xác Thịt"

Thế nhưng, người chồng phải thực hiện ơn gọi "gắn bó với vợ mình" bằng cách nào và như thế nào mới đúng như ý Ðấng đã xe duyên kết nghĩa cho mình, như chính Ngài đã dựng nên Evà và còn đích thân mang Evà đến cho Adong, để chính thức kết duyên cho đôi uyên ương nguyên tổ trong vườn địa đàng, lúc mà cả hai đang ngây ngất hồn nhiên với bộ áo cưới "trần truồng không biết xấu hổ". Cũng ngay trong cùng một đoạn và câu của Sách Khởi Nguyên trên đây, sau khi nói đến chuyện con người nam tính "lìa bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình", Mạc Khải Thánh Kinh liền tiết lộ bản chất làm nên hôn nhân nói chung và ý nghĩa sâu xa của ơn gọi làm chồng nói riêng, qua câu: "và trở nên một thân thể với vợ".

Ðúng vậy, để thể hiện ơn gọi làm chồng là "gắn bó với vợ mình", con người nam tính phải "trở nên một thân thể với vợ". Hay nói cách khác, "trở nên một thân thể với vợ" là người chồng hoàn thành ơn gọi làm chồng của mình. Thế nhưng, thực tế cho thấy, về sinh lý hay thể lý, người chồng không thể nào "trở nên một thân thể với vợ" được. Do đó, chữ "thân thể" đây phải hiểu là bản thân mình, bản thân người chồng, tức là người vợ của người chồng, đúng như văn hóa Việt Nam vẫn cho phép người chồng gọi vợ là "mình", và đúng như lời Thánh Phaolô khuyên người làm chồng là "phải yêu thương vợ mình như yêu thương bản thân mình. Ai yêu vợ mình là yêu chính bản thân mình" (Eph.5:28). Như thế, để "trở nên một thân thể với vợ" hầu có thể thực hiện trọn vẹn và hoàn hảo ơn gọi làm chồng của mình, người chồng "phải yêu thương vợ mình như yêu thương bản thân mình".

Nói tóm lại yêu thương vợ mình là ơn gọi của người làm chồng, hay nói ngược lại, ơn gọi của người làm chồng là yêu thương vợ mình. Người chồng nào cảm thấy cuộc sống hôn nhân với vợ mình không còn hay không có hạnh phúc thì trước hết hãy xét lại xem mình đã chu toàn hay đã hết sức thực hiện ơn gọi "yêu thương vợ mình như yêu thương bản thân mình" chưa? Nếu rồi thì họ có khổ cũng đừng lo, tới thời điểm Chúa định, Ngài sẽ giải quyết mọi sự tốt đẹp cho họ, như Ngài đã thực hiện trong trường hợp của Thánh Giuse (xem Mt.1:18-25).

Tuy nhiên, cả Thánh Kinh lẫn thực tế cho thấy, cũng không thiếu những trường hợp người chồng "yêu thương vợ mình như yêu thương bản thân mình" mà vẫn không hoàn trọn ơn gọi làm chồng của mình, trái lại, còn tác hại đến chính bản chất hôn nhân là "trở nên một thân thể với vợ" nữa. Ðiển hình nhất là trường hợp của đôi uyên ương nguyên tổ trong vườn địa đàng. Adong đã chẳng yêu thương vợ mình hay sao, đến nỗi, như chính Thiên Chúa cũng nhận thấy là "ngươi đã nghe vợ mà ăn cây Ta cấm ngươi ăn" (Gn.3:17). Ở đây, tuy Adong không ghét vợ hay không còn hợp với vợ mình đã tự mình "chọn" chứ không ai ép, để có thể đi đến chỗ ly dị vợ mình như ngày nay, nhưng tình của Adong yêu Evà cũng đã làm cho hai người, thay vì "trở nên một thân thể", lại gặp phải tình trạng ly thân đáng thương.

Ðúng thế, sau khi yêu thương nhau cách hồn nhiên nhưng ngang trái với ý muốn của Thiên Chúa, đôi uyên ương nguyên tổ đã không ly thân nhau là gì, khi hai người, về thể lý, tuy là vợ chồng với nhau, mỗi người cũng phải tìm cách che giấu đi "cái" phái tính đặc thù (private part) của mình, chứ không còn là một thân thể khi "cả hai trần truồng mà không biết xấu hổ" (Gn.2:25) nữa. Về tâm lý, đôi uyên ương nguyên tổ cũng không ly thân nhau là gì, khi Adong bị Chúa hạch hỏi "ai đã bảo cho ngươi biết rằng ngươi trần truồng?" (Gn.3:11) liền đổ lỗi cho Evà: "Người nữ mà Chúa cho ở với tôi đã đưa cho tôi trái cây đó nên tôi đã ăn" (Gn.3:12).

"Người nữ Chúa cho ở với Tôi"

Thành ngữ "người nữ mà Chúa cho ở với tôi", được thốt ra từ cửa miệng Adong đây, chẳng những nói lên việc vợ theo chồng hơn là chồng theo vợ, mà còn nói lên việc Adong ý thức được hôn nhân là một ơn gọi chứ không phải là chỉ việc tìm kiếm để đáp ứng cho thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý tự nhiên tới thời của nó nơi con người phái tính của mình. Chính vì ngày nay người ta theo văn hóa hôn nhân "pro choice", tức chủ trương tôi có quyền chọn ý trung nhân thì tôi cũng có quyền bỏ, có quyền chọn lại, mới xẩy ra tình trạng ly dị và phá sản hôn nhân như ngày nay, và từ đó lây sang tình trạng phá thai khủng khiếp như bây giờ. Hiện tượng ly dị được pháp lý hóa cho thấy hết sức rõ ràng là con người cực kỳ văn minh ngày nay qúa ấu trĩ, không biết chọn lựa gì cả, chọn gì cũng không xong, không được như ý, thay đổi, chóng chán, như trẻ con!

Thế nên, tới khi nào con người ý thức được hôn nhân là một ơn gọi, ở chỗ, người bạn đời của mình là do Thiên Chúa chọn cho mình, mình chỉ là người chấp nhận nhau từ Ngài, như Adong đã chấp nhận Evà từ tay Thiên Chúa trong vườn địa đàng như "người nữ Chúa cho ở với tôi", hôn nhân của con người mới thực sự có ý nghĩa, bền bỉ và hạnh phúc. Bởi vì, một khi ý thức được người bạn đời của mình là "người Chúa cho ở với" mình thì vợ chồng mới kính trọng nhau như là người của Chúa, chứ không phải chỉ yêu thích nhau như là người của mình, cho đến khi không thích nữa thì bỏ, thì tìm người khác. Và vì vợ chồng là "người Chúa cho ở với" mình như thế, nên phản bội nhau là phản bội Chúa trước hết, là "phân rẽ những gì Thiên Chúa đã kết hợp" (Mt.18:6).

Nếu Adong ý thức được hôn nhân là một ơn gọi và đã yêu thương "gắn bó với vợ mình" là "người Chúa cho ở với" ông, mà còn chưa hoàn tất được ơn gọi làm chồng của mình, và nếu Thánh Giuse là "một con người công chính" (Mt.1:19) còn gặp bị thử thách trong đời sống hôn nhân đến gần như làm cho hôn nhân bất thành, thì vợ chồng nói chung và người làm chồng nói riêng ngày nay, không nhiều thì ít, không nặng thì nhẹ, làm sao có thể hoàn toàn tránh được những cơn bão El Nĩno tàn phá hay dập vùi hạnh phúc hôn nhân, chứ chưa nói đến việc "Chúa Kitô yêu thương Giáo Hội thế nào, các người chồng cũng phải yêu thương vợ mình như vậy" (Eph.5:25).

Phải, chỉ có tình yêu Chúa Kitô đối với Giáo Hội nơi thành phần làm chồng mới có thể giải nguy cho tình trạng hôn nhân đang phá sản khủng khiếp ngày nay. Nếu Adong, khi còn trong tình trạng công chính nguyên thủy chưa biết đến tội lỗi là gì, mà thấy được gương của Chúa Kitô yêu thương Giáo Hội để mà noi theo, thì chưa chắc Adong đã yêu thương Evà vợ mình ngang trái và tai hại như thế. Chúa Kitô yêu thương Giáo Hội. Adong cũng yêu thương Evà. Tuy nhiên, tình yêu của Chúa Kitô đã thánh hóa Giáo Hội (xem Eph.5:27), trong khi tình yêu của Adong lại làm cho Evà phải mang nặng đẻ đau (xem Gn.3:16).

Vậy, nếu ơn gọi của người làm chồng là "gắn bó với vợ mình", bằng việc "trở nên một thân thể với vợ", được thể hiện nơi mối tình "yêu thương vợ mình như yêu thương bản thân mình", không phải như kiểu cách của mình mà là "như Chúa Kitô yêu thương Giáo Hội và đã hiến mình cho Giáo Hội", thì xin thánh Giuse, vị phu quân công chính đã hết mình yêu thương Mẹ Maria là người Chúa cho ở với ngài, khi ngài vui nhận Mẹ về nhà làm bạn, để phục vụ Mẹ và Chúa Giêsu như một người "làm đầu là làm tôi tớ" (Mt.20:27), cầu xin cho mỗi một người làm chồng và làm gia trưởng trong gia đình, được tràn đầy Chúa Thánh Thần là Tình Yêu ban Sự Sống. Amen.

Thứ Năm, 22 tháng 2, 2018

ƠN GỌI CỦA EVÀ LÀ LÀM MẸ

Mẹ Các Sinh Linh"

Nói đến Evà, người ta đều biết đó là vị nữ nguyên tổ của loài người. Ðúng thế, theo Thánh Kinh Do Thái Giáo cũng như Kitô Giáo, sau khi hai nguyên tổ loài người là Adong và Evà sa ngã phạm tội mất lòng Thiên Chúa là Ðấng đã tạo dựng nên các vị và cho các vị sống trong vườn địa đường, qua việc các vị ăn trái cây biết lành biết dữ ở giữa vườn là cây bị Ngài cấm, và sau khi các vị cùng với con rắn qủi cám dỗ nữ nguyên tổ lãnh bản án Thiên Chúa tuyên phạt, thì Sách Khởi Nguyên ở đoạn 3 câu 20 ghi lại rằng: "Con người gọi vợ mình bằng tên Evà, vì nàng đã là mẹ của tất cả các sinh vật".

Thật vậy, nếu ơn gọi của Adong là Evà, nói cho xác thực hơn đó là ơn gọi làm chồng Evà, ở chỗ, cũng theo bộ Thánh Kinh này, trong đoạn 2 câu 24 của cùng Sách Khởi Nguyên: "Con người lià bỏ cha mẹ mình mà gắn bó với vợ mình", thì quả thật "Ơn Gọi của Evà là Làm Mẹ Sinh Linh", tức ơn gọi của Evà không phải chỉ ở tại việc hiến thân cho chồng mình để "cả hai trở nên một xương thịt" (Gn.2:24) mà thôi. Bởi vì, nước không bao giờ chảy ngược thế nào, tình yêu con người cũng phải xuôi chiều như vậy, tức là theo tiến trình tự nhiên phát xuất từ Adong yêu thương gắn bó với Evà để rồi, nhờ được Adong yêu thương, Evà có thể đóng vai trò làm mẹ. Thế nên, bao giờ con người được dựng nên "có nam có nữ" (Gn.1:27) đi ngược chiều hay đi sai lệch với tiến trình ơn gọi hôn nhân do Thiên Chúa Tối Cao vô cùng khôn ngoan xếp định này, họ khó lòng có thể tránh được tai nạn xẩy đến cho mình, như cơn khủng hoảng xã hội ngày nay bắt nguồn từ hôn nhân và gia đình đã chứng thực hết sức rõ ràng. Về vấn đề này, trong bài "Ơn Gọi của Adong là Làm Chồng" (trước đây) người viết đã nhận định như sau:

Chính vì ngày nay người ta theo văn hóa hôn nhân "pro choice", tức chủ trương tôi có quyền chọn ý trung nhân thì tôi cũng có quyền bỏ, có quyền chọn lại, mới xẩy ra tình trạng ly dị và phá sản hôn nhân như ngày nay, và từ đó lây sang tình trạng phá thai khủng khiếp như bây giờ. Hiện tượng ly dị được pháp lý hóa cho thấy hết sức rõ ràng là con người cực kỳ văn minh ngày nay qúa ấu trĩ, không biết chọn lựa gì cả, chọn gì cũng không xong, không được như ý, thay đổi, chóng chán, như trẻ con! Thế nên, tới khi nào con người ý thức được hôn nhân là một ơn gọi, ở chỗ, người bạn đời của mình là do Thiên Chúa chọn cho mình, mình chỉ là người chấp nhận nhau từ Ngài, như Adong đã chấp nhận Evà từ tay Thiên Chúa trong vườn địa đàng như "người nữ Chúa cho ở với tôi", hôn nhân của con người mới thực sự có ý nghĩa, bền bỉ và hạnh phúc.

Ðúng thế, nếu con người nam nữ sống đời vợ chồng với nhau, đặc biệt trong thời khoa học kỹ thuật tối tân tiến ngày nay, không ý thức hôn nhân là một ơn gọi, thì như thực tế cho thấy, không sớm thì muộn, hôn nhân của họ cũng sẽ trở thành một thứ trò chơi, mà hậu quả là con cái vô tội của họ sẽ trở thành một món đồ chơi.

"Vấn Ðề Sinh Sản"

Tầm quan trọng của việc ý thức ơn gọi hôn nhân liên hệ đến "vấn đề sinh sản" đã được Ðức Phaolô VI nhấn mạnh trong Thông Ðiệp Sự Sống Con Người ở đoạn 7 như sau:

"Vấn đề sinh sản, giống như mọi vấn đề khác liên quan đến sự sống con người, phải được cứu xét vượt ra ngoài cả những quan điểm riêng rẽ - dù là trật tự sinh lý hay tâm lý, dân số hay xã hội - tức phải được cứu xét theo ý nghĩa của một cái nhìn toàn diện về con người và về ơn gọi của họ, chẳng những ơn gọi tự nhiên và trần thế, mà còn cả ơn gọi siêu nhiên và vĩnh cửu của họ nữa".

Thế nhưng, ý thức ơn gọi hôn nhân là gì, nếu không phải là nhận biết nguồn gốc thần linh của tình yêu hôn nhân để sống đúng bản chất và sứ mệnh đích thức của tình yêu này. Chính vì thế, trong cùng một bức Thông Ðiệp Sự Sống Con Người, ngay sau khi đề cập đến vấn đề hôn nhân là một ơn gọi, Ðức Phaolô VI đã nhắc lại giá trị của "tình yêu hôn nhân" như sau:

"Tình yêu hôn nhân biểu tỏ bản chất và cao qúi chân thực của mình khi nó được coi như phát xuất từ nguồn gốc tối cao là Thiên Chúa, Ðấng là tình yêu (x.1Jn.4:8), là 'Cha mà mọi gia đình trên trời dưới đất mang tên gọi' (x.Eph.3:15). Thế nên, hôn nhân không phải là kết quả của ngẫu nhiên hay sản vật của một cuộc tiến hóa bởi những năng lực vô thức tự nhiên; nó là một cơ cấu khôn ngoan của Ðấng Hóa Công để thể hiện nơi con người dự án yêu thương của Ngài. Nhờ việc hỗ tương trao tặng bản thân mình cho nhau, xứng hợp và toàn thể, vợ chồng hướng đến một cuộc hiệp thông hữu thể của mình liên hệ đến tầm vóc toàn hảo chung, để hợp tác với Thiên Chúa trong việc sản sinh và giáo huấn các cuộc sống mới" (đoạn 8)...

"Hôn nhân và tình yêu phối ngẫu, tự bản chất của mình, là để sinh sản và giáo dục con cái. Con cái thật sự là qùa tặng cao cả của hôn nhân và đóng góp rất trọng yếu cho việc an toàn của cha mẹ mình" (đoạn 9).

Với ý thức ơn gọi hôn nhân như thế, trong thực hành, vợ chồng còn cần phải tỏ ra bằng việc làm, nhất là ở việc sinh sản con cái là mục đích chính yếu của hôn nhân và là căn nguyên sâu xa làm nên hôn nhân. Thế nên, theo giòng tư tưởng được bố cục thứ tự hết sức mạch lạc của mình, Thông Ðiệp Sự Sống Con Người tiếp tục diễn đạt ở đoạn 10 về "việc truyền sinh" chân chính thế này:

"Thế nên, trong việc truyền sinh, cha mẹ không được tự do tiến hành hoàn toàn theo ý mình, như thể họ có thể định đoạt một cách hoàn toàn tự động đường lối xứng hợp phải theo; song họ phải tác động hợp với ý định sáng tạo của Thiên Chúa, được thể hiện ngay nơi bản chất của hôn nhân cũng như của việc làm hôn nhân, và được biểu lộ bằng giáo huấn liên tục của Giáo Hội".

Tuy nhiên, để áp dụng trọn vẹn và xác đáng ý thức ơn gọi hôn nhân trong việc truyền sinh vào thời điểm hiện nay không phải là một chuyện dễ, như những người làm cha làm mẹ chúng ta hầu như ai cũng cảm thấy. Ðể giải đáp vấn đề ngừa thai xứng hợp với ơn gọi hôn nhân cao cả, Thông Ðiệp Sự Sống Con Người, sau khi tỏ ra thông cảm với các cặp vợ chồng gặp những khó khăn trong việc sinh dưỡng con cái, đã dứt khoát chủ trương của mình ở đoạn 16 như sau:

"Nếu vậy, một số người có thể đặt vấn đề: vào hoàn cảnh hiện nay, không hợp lý hay sao, trong nhiều trường hợp cần phải sử dụng đến phương pháp ngừa thai nhân tạo, nếu nhờ đó chúng tôi bảo toàn được sự hòa thuận và bình an trong gia đình, cũng như tạo điều kiện tốt hơn cho việc giáo dục những đứa con đã được sinh ra? Về vấn đề này, cần phải trả lời một cách rõ ràng minh bạch như sau: Giáo Hội là người đầu tiên ca ngợi và khuyến khích việc can thiệp sáng suốt vào phận sự được gắn sát với tạo vật có lý trí trước Ðấng Tạo Hóa; thế nhưng, Giáo Hội xác nhận rằng, việc này phải được thực hiện theo sự tôn trọng trật tự được Thiên Chúa thiết lập. Bởi thế, nếu có lý do quan trọng trong việc co giãn sinh nở, gây ra do tình trạng thể lý hay tâm thần của vợ chồng, hay những hoàn cảnh ngoại tại, Giáo Hội dạy rằng, bấy giờ cần phải căn cứ vào chu kỳ tự nhiên trong phần hành truyền sinh, để làm việc vợ chồng trong thời kỳ không đậu thai mà thôi, và nhờ cách này mà điều hành việc sinh sản mới không vi phạm đến những nguyên tắc luân lý...".

Nếu không theo nguyên tắc và đường lối chính đáng hợp với "trật tự được Thiên Chúa thiết lập" để "không vi phạm đến những nguyên tắc luân lý" này, con người sẽ đưa cuộc sống hôn nhân của mình nói riêng, và gia đình của mình nói chung, thậm chí cả xã hội loài người của mình nữa, đến một tình trạng được Thông Ðiệp Sự Sống Con Người tiên báo rất chính xác, như thực tế hiện nay cho thấy, qua đoạn 17 như sau:

"Có lý để sợ rằng nam nhân, trong việc đi sâu vào việc sử dụng những đường lối ngừa thai trái phép, cuối cùng có thể mất đi lòng trọng kính nữ giới, và vì không còn để ý tới tình trạng quân bình về thể lý cũng như tâm lý của họ, có thể tiến đến chỗ coi họ thuần túy như một dụng cụ hưởng thụ ích kỷ của mình, họ không còn là người đồng bạn đáng kính và yêu dấu của mình nữa. Cũng cần xét đến việc trao khí giới nguy hiểm vào tay một thứ chính quyền không còn nghe theo những đòi hỏi luân lý. Ai có thể đổ lỗi cho chính quyền về việc giải quyết những rắc rối của cộng đồng bằng cách dùng những phương tiện được công nhận là hợp pháp cho các cặp vợ chồng để giải quyết những vấn đề gia đình? Ai sẽ ngăn cản được các nhà cầm quyền khỏi chấp nhận phương pháp ngừa thai mà họ cho rằng hiệu nghiệm nhất, ngay cả khỏi việc họ áp đặt lên dân chúng của mình phương pháp này, một khi họ cho là cần thiết? Như thế, con người, trong khi muốn tránh những khó khăn về cá nhân, gia đình hoặc xã hội ngược lại với việc giữ lề luật thần linh, sẽ tiến đến chỗ đặt lãnh vực cá nhân nhất và riêng tư nhất của tình tự hôn nhân vào sự can thiệp thương hại của chính quyền. Kết quả là, nếu không muốn sứ mệnh truyền sinh bị lạm dụng bởi ý muốn buông thả của con người, họ cần phải nhận biết những giới hạn không thể vượt qua đối với khả năng nơi quyền thống trị của con người trên thân xác mình cũng như trên các phần hành của nó; những giới hạn mà không một ai, dù là cá nhân riêng tư hay một người có thẩm quyền, cho rằng mình có quyền qua mặt".

Thực Tế Phũ Phàng

Qua lời cảnh báo này, Thông Ðiệp Sự Sống Con Người của Ðức Phaolô VI quả thực là một sứ điệp tiên tri cho thời điểm hiện đại. Nếu để ý trong các đoạn Thông Ðiệp được trích dẫn vừa rồi, chúng ta sẽ thấy có 2 điều Ðức Phaolô VI lo ngại chính, liên quan đến việc sử dụng phương pháp ngừa thai nhân tạo không đúng với "trật tự được Thiên Chúa thiết lập" và đã "vi phạm đến những nguyên tắc luân lý", những điều lo ngại đã trở thành thực tế phũ phàng trước mắt chúng ta ngày nay.

Ðiều lo ngại thứ nhất là: "Có lý để sợ rằng nam nhân, trong việc đi sâu vào việc sử dụng những đường lối ngừa thai trái phép, cuối cùng có thể mất đi lòng trọng kính nữ giới, và vì không còn để ý tới tình trạng quân bình về thể lý cũng như tâm lý của họ, có thể tiến đến chỗ coi họ thuần túy như một dụng cụ hưởng thụ ích kỷ của mình, họ không còn là người đồng bạn đáng kính và yêu dấu của mình nữa". Ðiều này cho thấy, kính thưa qúi vị, một cách trực tiếp nơi thị trường buôn dâm, vẫn biết loại thị trường này đã có từ trước, song đến nay, thị trương mãi dâm này lại càng ngày càng đầy giẫy và tinh vi khêu gợi hơn nơi những phim ảnh, hình ảnh, hộp đêm phơi bầy phụ nữ khỏa thân để mua vui cho nam giới, nhất là nơi một số nước bên Á Châu và Úc Châu đang làm ngơ trước dịch vụ du lịch mua dâm. Sự kiện khinh thường xác thể phụ nữ này còn phơi bầy cách gián tiếp qua sự kiện ly dị mỗi ngày một tăng, nhất là ở các nước tân tiến Âu Mỹ, ở một môi trường con người chỉ chạy theo tiện nghi vật chất hơn là trọng tình trọng nghĩa, một môi trường hưởng thụ theo cá nhân chủ nghĩa hơn là phục vụ cho tha nhân cộng đồng, một môi trường cạnh tranh kinh tế lợi lộc và chính trị chủ quyền hơn là tinh thần hy sinh bỏ mình v.v.

Ðiều lo ngại thứ hai là: "Ai sẽ ngăn cản được các nhà cầm quyền khỏi chấp nhận phương pháp ngừa thai mà họ cho rằng hiệu nghiệm nhất, ngay cả khỏi việc họ áp đặt lên dân chúng của mình phương pháp này, một khi họ cho là cần thiết?" Ðã không xẩy ra đúng như thế hay sao, riêng luật pháp ở Hoa Kỳ đã cho phép phá thai vào năm 1973, tức sau bức Thông Ðiệp này 5 năm. Ðiển hình nhất là Hội Nghị về Dân Số ở Cairô nước Ai Cập năm 1994 bốn năm trước đây, Năm Quốc Tế Gia Ðình do Liên Hiệp Quốc tổ chức, một hội nghị muốn triệt để phát động phương pháp ngừa thai nhân tạo để kiểm soát dân số thế giới, đến nỗi, nếu không bị hai khối Công Giáo và Hồi Giáo cực lực phản chống một cách hết sức nghiêm chỉnh và kịch liệt, thì phụ nữ trên thế giới nói chung, và ở các nước chậm tiến hay đang tiến nói riêng, vì ngay lành hay dù không muốn, cũng đã phải tuân theo một thể chế quốc tế hóa trong việc hạn chế sinh sản hoàn toàn vô nhân đạo và phản luân lý mất rồi.

"Ở một xã hội mà người mẹ có thể sát hại con mình thì còn gì người ta lại không dám hủy hoại. Một đất nước giết hại những trẻ em còn trong bụng mẹ - những con người được tạo tác để sống và để được yêu thương, những tạo vật được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa - thì đất nước đó là một đất nước bần cùng nhất".

Mẹ Têrêsa Calcutta đã suy luận và tuyên bố như thế.

Thật vậy, cứ đà này, thế giới chúng ta hiện sống đang ở trên đà lao mình xuống hố diệt vong, với nhân số càng ngày càng suy giảm tới mức không thể nào lấy lại được nữa. Như các cuộc nghiên cứu gần đây cho thấy, hầu hết dân số trên cả thế giới được phát triển là do người ta sống lâu hơn là sinh nhiều hơn. Số sinh đã giảm sút hẳn tại Bắc Mỹ, Mỹ Châu La Tinh, Âu Châu và Ðông Á. Theo chiều hướng này thì Âu Châu sẽ hụt dân số vào năm 2005; mức độ thụ thai của các nước tân tiến sẽ rơi xuống dưới mức độ bù trừ vào năm 2015, và cả thế giới sẽ hụt dân số vào năm 2045. Phần trăm của dân số thế giới tăng hiện nay ở mức thấp nhất trong lịch sử và tiếp tục giảm sút mỗi năm...

Ngoài ra, còn một dấu chứng nữa báo hiệu tình trạng con người đang trên đà diệt vong là việc tràn lan các chứng bệnh bị nhiễm lây theo đường sinh dục, theo tiếng Mỹ là sexually transmitted diseases. Thật vậy, không kể hội chứng liệt kháng, hay Aids bên tiếng Mỹ và Siđa như người Việt chúng ta vẫn quen gọi, một hội chứng đã lan tràn khắp thế giới mà khoa học tân tiến ngày nay vẫn không thể đối phó nổi, thì riêng tại Mỹ quốc này, theo các tài liệu của Ðại Học Chuyên Viên Sản Khoa Hoa Kỳ, của bác sĩ Joe Mclllhaney Jr. trong cuốn Safe Sex do Baker Book House xuất bản năm 1991, và của Các Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật ở Atlanta, tiểu bang Georgia, cho biết: Các bệnh truyền nhiễm theo đường sinh lý là những chứng bệnh thịnh hành nhất hiện nay, chỉ thua có cảm cúm thông thường mà thôi; 1 trong 5 người Mỹ hiện nay đang mắc phải chứng bệnh này; 12 triệu trường hợp bắt đầu bị bệnh này được tường trình hằng năm, tức 33 ngàn vụ mỗi ngày; 45 triệu người Hoa Kỳ bị nhiễm chứng bệnh này không thể chữa trị

Cứu Vãn Tình Thế

Vậy, để cứu vãn tình trạng băng hoại gia đình gây ra bởi cuộc khủng hoảng tình yêu hôn nhân mà hậu quả, ngoài các chứng bệnh truyền nhiễm theo đường sinh lý nguy tử, là chính những thai nhi vô tội bị chết oan uổng, hội dòng Thừa Sai Bác Ái của Mẹ Têrêsa Calcutta đã thực hiện "chương trình kế hoạch hóa theo phương cách tự nhiên" cho các cặp vợ chồng, và chương trình "đừng phá thai" qua việc nhận nuôi trẻ em bị bỏ rơi sau khi sinh ra.

Về "chương trình kế hoạch hóa theo phương pháp tự nhiên", Mẹ Têrêsa cho biết thành quả về sinh lý, về cả sinh lý lẫn tâm lý, và cho chung xã hội, như sau. Thành qủa về sinh lý: "Có ba ngàn gia đình tham dự chương trình kế hoạch hóa theo phương pháp tự nhiên thì có khoảng 95% đã thành công. Tôi thiết nghĩ nếu chúng ta có thể mang phương pháp tự nhiên này truyền dạy cho tất cả mọi quốc gia, và nếu tất cả mọi người nghèo có thể học biết phương pháp này, thì chắc sẽ hòa bình hơn, yêu thương nhau hơn trong các gia đình". Thành quả về cả sinh lý lẫn tâm lý: "Nhiều người đã nói với tôi rằng: 'Nhờ việc học hỏi để kế hoạch hóa gia đình theo đường lối tự nhiên mà tình yêu của chúng tôi và sự kính trọng nhau nơi chúng tôi khá hơn trước'. 

Các Nữ Tử Bác Ái của hội dòng chúng tôi đã hướng dẫn các gia đình, cho cả vợ lẫn chồng, việc kế hoạch hóa theo phương pháp tự nhiên, và họ đã cho chúng tôi biết họ cảm thấy khỏe mạnh hơn trước. Họ bày tỏ rằng 'chúng tôi hiện nay khỏe lắm. Thêm vào đó, chúng tôi lại còn biết tùy nghi có con theo ý mình nữa'". Thành quả cho chung xã hội: "Nơi nào chính quyền cũng lo ngại về vấn đề khủng hoảng nhân số... Chúng tôi đã giúp cho chính phủ Ấn Ðộ, đặc biệt ở nguyên tại Calcutta, trong 10 năm qua giảm tỉ lệ dân số hơn cả triệu người. Ðó là lý do tại sao chính quyền Ấn Ðộ đã hoàn toàn công nhận giá trị của việc kế hoạch hóa gia đình theo phương pháp tự nhiên".

Về chương trình "đừng phá thai" qua việc nhận nuôi trẻ em bị cha mẹ bỏ rơi sau khi sinh ra, Mẹ Terêsa cũng lên tiếng kêu gọi như sau: "Hôm ấy, có một phụ nữ người Ấn đến chia sẻ với tôi về nỗi khổ tâm dằn vặt mà bà đang trải qua. Người đàn bà này rất giầu, có đủ mọi thứ, song lại hết sức buồn đau. Bà tức tưởi nói: 'Mẹ ơi, tôi vừa trông thấy một em bé độ 8 tuổi chơi ở ngoài sân. Khi thấy đứa bé kia tự nhiên tim tôi nhức buốt, lương tâm cứ dày vò cắn rứt trong tôi, vì trước đây tám năm tôi đã phá thai. Thưa Mẹ, nếu không phá thai thì giờ đây tôi đã có một đứa con cũng lên 8 tuổi rồi'. Qúi vị thân mến, nếu qúi vị không muốn nuôi trẻ em thì hãy đem chúng đến cho chúng tôi. Tôi muốn nhận chúng. Tôi sẽ tìm cho chúng một mái ấm để yêu thương và dưỡng nuôi chúng. Tôi chỉ xin qúi vị một điều là đừng giết người. Ðừng hủy hoại. Ðừng sát hại..."

Không phải một mình Mẹ Têrêsa cho chúng ta biết thành quả tốt đẹp và hầu như mỹ mãn của phương pháp ngừa thai nhân tạo, mà còn cả các bậc thức giả đương thời nữa. Chẳng hạn, theo tác giả Mercedes A. Wilson, trong cuốn "Love and Family" do Ignatius Press ở San Francisco xuất bản năm 1996, qua bản phân tích mức độ hiệu nghiệm của các phương pháp ngừa thai nhân tạo với Ovulation Method là phương pháp tự nhiên căn cứ theo chu kỳ trứng rụng, thì kế hoạch hóa gia đình theo đường lối tự nhiên, Natural Family Planning, như phương pháp trứng rụng, đã được thử nghiệm gắt gao trong hai thập niên qua, cho thấy mức công hiệu tối đa, lên đến 98-99%. Mức độ thành qủa này qua mặt cả mức độ hiệu nghiệm của tất cả mọi y dụng được phát minh ra để phá thai hay ngừa thai nhân tạo.

Như thế, với "Chân Lý Rạng Ngời" của Thông Ðiệp Sự Sống Con Người do Ðức Phaolô VI ban hành cách đây 30 năm, và với kinh nghiệm sống động hết sức thực tế của Mẹ Têrêsa Cacultta trong việc hướng dẫn để áp dụng phương pháp ngừa thai tự nhiên từ đó tới nay, thì chỉ có những ai không chịu thử hay ngại áp dụng, hoặc không thể làm chủ được mình, phương pháp hiệu nghiệm này mới không có kết quả mà thôi. Trái lại, nếu đã có tinh thần sống ơn gọi hôn nhân, thì dù việc sử dụng phương pháp này chẳng may có không thành công, nơi 1 hay 2 hoặc 5 phần trăm trong số họ đi nữa, họ cũng vẫn vui lòng chấp nhận sự sống mới do Thiên Chúa ban cho họ.



Tóm lại, nếu các cặp vợ chồng biết sống đạo trong đời sống hôn nhân, tức thực sự và hết sức sống ơn gọi hôn nhân cao cả của mình, chắc chắn họ sẽ không bị cuốn hút đến bật gốc nhân phẩm của mình trong cơn lốc "văn hóa tử vong".

 Nhận thức như là một niềm xác tín này của tôi có thể được chứng thực qua cuộc nghiên cứu được bà Mercedes Arzú Wilson là chủ tịch kiêm sáng lập Hội Gia Ðình của Người Mỹ và Hội Thế Giới cho Gia Ðình, thống kê cho thấy như sau: Các cặp lấy nhau trước tòa đời thì một nửa bỏ nhau; các cặp lấy nhau theo Giáo Hội thì 1 phần 3 bỏ nhau; các cặp lấy nhau theo Giáo Hội và cùng nhau tham gia sinh hoạt nhà thờ thì 1 phần 50 bỏ nhau; và các cặp lấy nhau theo Giáo Hội rồi cùng nhau tham dự Thánh Lễ và cầu nguyện chung thì 1 phần 1429 bỏ nhau.