Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

“Bà Maria hằng ghi nhớ…” – Suy niệm ngày 01.01






16 Khi ấy, các người chăn chiên hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ.17 Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này.18 Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên.19 Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.20 Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ.
21 Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su; đó là tên mà sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ.
SUY NIỆM
Vào năm 428, ở Constantinople (bây giờ là thủ đô Istanbul, nước Thổ Nhĩ Kỳ), một linh mục gọi Đức Maria là Théo-tokos, tiếng Hi lạp, có nghĩa là “Người sinh ra Thiên Chúa”, mà người sinh ra Thiên Chúa, có nghĩa là Mẹ Thiên Chúa! 
Tuy nhiên, có nhiều Giám mục, và nổi tiếng nhất là Giám mục Nestorius, thượng phụ Constantinople không đồng ý với tước hiệu này của Mẹ Maria, vì cho rằng Đức Maria chỉ sinh ra bé Giê-su; do đó, Đức Maria chỉ là Mẹ của Đức Giê-su thôi, chứ không thể là Mẹ của bản tính thần linh của Con Thiên Chúa được; bởi lẽ, bản tính thần linh của con Thiên Chúa thì hằng hữu, bất di bất dịch, không thể được sinh ra trong thời gian. Tóm lại, Đức Mẹ là Mẹ của Đức Giê-su Nazareth, chứ không thể là Mẹ của Ngôi Lời, con Thiên Chúa hằng hữu; mà Ngôi Lời là Thiên Chúa, nên Mẹ không thể là Mẹ Thiên Chúa được!
Sự bất đồng này là rất lớn và dẫn đến sự li khai trong Giáo Hội. Chính vì thế, công đồng Ê-phê-sô, năm 431, khởi đi từ truyền thống đức tin của các Tông Đồ và kinh Tin Kính (của Công Đồng Ni-cê-a, năm 325), vốn không phân chia hai chủ thể: chủ thể con Đức Maria và chủ thể con Thiên Chúa, đã xác định:
Đấng Hằng Hữu, được sinh ra trước mọi thời gian,
cũng chính là Đấng được sinh ra từ Đức Maria và từ Thánh Thần
.
Vì thế, Đức Maria phải được gọi là Đấng Sinh Ra Thiên Chúa, Théo-tokos, là Mẹ Thiên Chúa.
*  *  *
Nhắc lại một chút lịch sử đức tin của Giáo Hội, để chúng ta ý thức rằng danh hiệu “Mẹ Thiên Chúa” của Đức Maria mà chúng ta mừng kính trọng thể hôm nay, không chỉ là một danh hiệu của lòng sốt mến, phát xuất từ tình cảm đạo đức, nhưng có liên quan đến cách Giáo Hội chiêm ngắm và hiểu biết “Hài nhi Giê-su, được bọc tã nằm trong máng cỏ” thực sự là Ngôi Lời Thiên Chúa, như Lời Chúa trong Tin Mừng theo thánh Gioan mặc khải cho chúng ta:
Ngôi Lời đã trở nên người phàm
và cư ngụ giữa chúng ta
. (Ga 1, 14)
“Một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”, nhưng đó chính là Ngôi Lời Thiên Chúa, “Người đã từ trời xuống thế”, như chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính. Nhưng bài Tin Mừng theo thánh Luca của Thánh Lễ kính Đức Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, lại mời gọi chúng ta cách thức Người đảm nhận không chỉ bản tính con người, nhưng đảm nhận một dân tộc cụ thể ngang qua nghi thức cắt bì và đặt tên, sau khi Hai Nhi được đủ tám ngày.
Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su.
Người là Con Thiên Chúa từ thủa đời đời, nhưng Người cũng là Con của Con Người, như sau này Ngài thích tự xưng như thế, và nhất là Ngài có sứ mạng “mang lấy các bệnh hoạn tật nguyền” của loài người và của từng người chúng ta.
*  *  *
“Một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”, nhưng như lời sứ thần loan báo cho các mục đồng, là Đấng Cứu Độ, là Đấng Ki-tô Đức Chúa; vì thế, đó là “Tin Mừng Trọng Đại”. Tin Mừng trọng đại, nhưng lại được loan báo cho những người bé nhỏ, “những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữa đàn vật”; ở đây, một cách rất cụ thể, đó là những người Chúa thương. Bởi lẽ, ai có thể đón nhận một lời loan báo lớn lao như thế khởi đi từ dấu chỉ em bé sơ sinh nằm trong máng cỏ, nếu không phải là những người “giống” như Ngôi Hai Thiên Chúa Nhập Thể nhất, nghĩa là cũng nhỏ bé, khiêm tốn và hiền lành? Và quả thực, Thiên Chúa đã không lầm, bởi vì những người chăn chiên đã mở lòng ra cách vô điều kiện để lắng nghe sứ điệp, lên đường, tín thác và ca tụng Thiên Chúa.
Vì thế chúng ta cũng được mời gọi chiêm ngắm Hài nhi Giê-su bọc tã nằm trong máng cỏ, nhỏ bé, khiêm tốn và hiền lành, và nhận ra Ngài là Ngôi Lời Con Thiên Chúa nhập thể, để đón nhận Người vào trong lòng của chúng ta, vào cuộc đời và vào trong cộng đoàn của chúng ta. Kinh nghiệm này cũng giúp chúng ta nhận ra Chúa, sự hiện diện và hành động của Ngài trong thế giới, lịch sử, xã hội và trong cuộc đời của chúng ta nơi những gì là nhỏ bé, khiêm tốn và hiền lành.
Và để có được kinh nghiệm thiêng liêng này, chúng ta hãy bắt chước Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, đó là:
Hằng ghi nhớ tất cả những gì đã diễn ra, và suy đi nghĩ lại trong lòng.
Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc




I. LỜI CHÚA : Lc 2,16-21
Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ.17 Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này.18 Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên.19 Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.20 Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ.
21 Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su; đó là tên mà sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ. 
II. SỐNG LỜI CHÚA
Hôm nay ngày đầu năm mới, ngày tôn vinh Ngôi Lời làm chủ thời gian. Thật  thích hợp biết bao khi phụng vụ mừng kính Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa vào ngày hôm nay vì bài Tin Mừng đã cho chúng ta chiêm ngưỡng Đức Maria, mẫu gương tuyệt vời nhất trong việc lắng nghe, yêu mến và sống Lời Chúa. Nhờ suy đi gẫm lại Lời Chúa, Mẹ đã thể hiện đức tin một cách trọn vẹn, Mẹ luôn nối kết được thực tại Nước Trời với mọi chi tiết của thực tại cuộc sống.
Đó là lời giải thích tại sao Mẹ vẫn tin rằng Giêsu con Mẹ là Thiên Chúa, đồng thời Mẹ cũng vẫn phải chu toàn mọi trách nhiệm của một bà Mẹ đồng hành với mọi bước đường gian khổ của con mình, chào đời không nơi tạm trú, khi chết không chỗ tựa đầu. Trong ý nghĩa trên, chúng ta cùng chiêm ngắm đức tin của Mẹ để củng cố  đời sống  đức tin của chúng ta dưới ánh sáng của Lời Chúa.
 1. Mẹ Thiên Chúa chiêm ngắm con tại máng cỏ Belem
Nếu bạn là người trong cuộc, bạn có đức tin đủ để có thể nối kết được thực tại Nước Trời với thực tại cuộc sống như  Mẹ Maria không? Khi không thuê được một chỗ trọ rẻ tiền nhất, thánh Giuse đã phải tìm đến một hang bò lừa ở đồng hoang để cho Mẹ hạ sinh Chúa Giêsu, người con mà thiên sứ Gabriel đã báo tin cho Mẹ là “Con Thiên Chúa (Lc 1, 35)  và ‘triều đại Người sẽ vô cùng vô tận’ (Lc 1, 33). Rồi sau khi đặt Chúa Giêsu nằm trong máng cỏ Mẹ lại được chứng kiến cảnh những người chăn chiên chạy đến thờ lạy Chúa, nghe họ kể chuyện, họ đã được thấy vinh quang của Thiên Chúa chiếu tỏa và muôn vàn thiên binh hợp xướng: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.” Họ còn kể thêm về những lời sứ  thần báo tin cho họ về Đấng Cứu Độ là Đức Kitô đã sinh ra, nằm trong mang cỏ đã được ứng nghiệm.
Vâng, làm sao chúng ta có thể nối kết sự bình an Nước Trời ban tặng với thực tại đầy những thách đố, gian khổ và hy sinh như Mẹ Maria? Thánh Luca đã ghi lại chỉ có một câu: “Còn bà Maria thì  hằng ghi nhớ những kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng”. Như thế, thánh Luca muốn chúng ta hiểu rằng: Nhờ suy niệm Lời Chúa, Mẹ Maria đã có được đức tin phi thường trong mọi biến cố của đời sống.
2. Mẹ Thiên Chúa ẩn dật với con tại Nazaret
Vâng, vì “ hằng ghi nhớ những kỷ niệm và suy đi nghĩ lại trong lòng”, theo thời gian, Mẹ Maria đã chứng kiến tất cả mọi lời Thiên Chúa phán đều được ứng nghiệm. Nhờ đó Mẹ càng xác tín hơn vào ý muốn và hành động của Thiên Chúa, cho dẫu người con Giêsu của Mẹ, được tiên báo là Đấng Cứu Thế, nhưng thực tế chẳng có gì đặc biệt, cũng tiếp nối nghề thợ mộc của thánh Giuse và sống bình thường như các thanh niên cùng xóm cho đến năm 30 tuổi. Nếu đặt mình trong vai trò của Mẹ Maria, đức tin của bạn có bị thử thách không?
Là một thiếu nữ Israel, chắc hẳn Mẹ Maria đã mang cùng thao thức với dân tộc mình là chờ mong một vị cứu tinh quyền lực để giải phóng dân tộc khỏi sự áp bức của Đế quốc, hy vọng dân Chúa được hưởng sự bình an thịnh vượng, tự do thờ phượng, tôn vinh Thiên Chúa. Nhưng ở bên Chúa Giêsu, Mẹ đã thay đổi được suy nghĩ, quan niệm riêng của mình và học được nơi Người hành động cứu độ của Thiên Chúa không bằng quyền lực, án phạt, nhưng là một tình yêu chia sẻ phục vụ, sống cùng và sống với những người nghèo nhất trong những người nghèo. 
3. Mẹ Thiên Chúa cùng hiến tế với con dưới chân thập giá
Cả cuộc đời Mẹ Maria là “hằng ghi nhớ những kỷ niệm và suy đi nghĩ lại trong lòng”; cao điểm là giây phút đứng dưới chân thập giá để hiệp chung hiến tế cứu độ với Chúa Giêsu. Trong kinh nghiệm, Mẹ có thể hiểu chương trình cứu độ của Thiên Chúa là yêu thương phục vụ, nhưng Mẹ thực sự không thể tưởng tượng nổi tại sao Thiên Chúa lại thể hiện tình yêu qua nỗi thống khổ của Chúa Giêsu trên thập giá? Lúc này chỉ có lời nói, thái độ và tâm tình của Chúa Giêsu mới có thể giải thích và nâng đỡ đức tin của Mẹ. Nhờ chiêm ngắm đức tin của Chúa Giêsu, ngoan thảo vâng lời Chúa Cha và hiền hậu xin tha tội cho nhân loại, cụ thể là những người đóng đinh mình, Mẹ đã được thêm sức mạnh để có thể can đảm đứng vững bên Chúa trong giây phút cuối cùng trên thập giá, nhận lời trối của Chúa tiếp tục phục vụ, củng cố đức tin non yếu của Hội thánh sơ khai trước cơn bách hại của những người không tin.
Trong niềm tin vào Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ nhân loại, chúng ta có thể đến với Mẹ trong mọi giây phút của đời sống; nhất là khi thể xác suy yếu có thể dẫn đến sự phân rã của tinh thần, làm chúng ta lo âu, mất định hướng, chúng ta càng cần xin Mẹ giúp chúng ta biết chiêm ngắm Chúa Giêsu, tìm sức mạnh và sự khôn ngoan trong việc học hỏi, suy niệm Lời Chúa, để có thể nối kết được những vui buồn, thành công, thất bại trong thực tại cuộc sống với ý nghĩa tình yêu cứu độ của thực tại Nước trời.
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ truyền thông đức tin cho chúng con. Xin hướng dẫn chúng con suy chiêm đời sống Chúa Giêsu Con Mẹ dưới ánh sáng Lời Chúa để chúng con có được một đức tin trung kiên vững vàng như Mẹ. Amen.
Sr. Têrêsa Phạm Thị Oanh

Nếu như Mẹ Maria đã cất lời: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả…” thì sao trong chương trình cứu độ của Ngài, Thiên Chúa còn chờ đợi một tiếng “Fiat – Xin vâng” rất tự do và rất “con người” của Mẹ? Để rồi từ giây phút truyền tin ấy, từ lời Fiat của Mẹ, có ngay sự hạ cố của Thiên Chúa và Đức Giêsu trở thành Con lòng Mẹ bởi phép Đức Chúa Thánh Thần và Ngài đã đến ngự trong lòng Mẹ. Nhưng cũng lạ lùng không kém, khi người tín hữu thưa tiếng Amen lúc lãnh nhận Thánh Thể, lập tức Chúa Giêsu cũng đến ngự vào trong lòng những kẻ tin. Điều mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II đã khẳng định: Khi thưa tiếng Fiat, Thiên Chúa đòi hỏi Đức Maria phải tin rằng Đấng mà Mẹ thụ thai “nhờ hoạt động Thánh Thần” là Con Thiên Chúa. (x.Lc 1, 30-35). Khi thưa tiếng Amen, Thiên Chúa cũng đòi hỏi chúng ta tin rằng, trong mầu nhiệm Thánh Thể, cũng Chúa Giêsu đó, Con Thiên Chúa và Con Đức Maria, hiện diện cách trọn vẹn gồm cả nhân tính lẫn thần tính của Ngài dưới hình bánh và rượu.(x T.Đ. Ecclesia De Eucharistia số 55). Dường như có sự liên quan tương tác giữa lời Fiat và tiếng Amen thần diệu đó.
1. Không thể nói tiếng FIAT nếu không có niềm tin AMEN
Trình thuật về biến cố Truyền Tin trong Tin Mừng Thánh Luca cho thấy, để nói lên lời Fiat, Mẹ Maria đã phải trải qua từng chặng đường khó khăn của niềm tin:
Chặng 1 : lời chào như vậy có ý nghĩa gì ? Đức Maria đã phải thốt lên lời phản ứng đầu tiên đó, vì từ đâu đến với Mẹ, sự xuất hiện đột nhiên của Sứ thần với lời chào thật bỡ ngỡ: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Bà.” (Lc 1, 28) Mẹ, một thiếu nữ Do Thái thật dễ thương, đoan trang và thùy mị. Hẳn Mẹ thừa biết những lời đồn đại hay những ước mơ được làm Mẹ Đấng Cứu Thế của dân Do Thái? Rồi ai sẽ được dự phần vào chức tước ấy? Với nếp sống khiêm cung đoan thục của người thôn nữ miền quê, Mẹ cũng âm thầm mong đợi Đấng Cứu Tinh như bao nhiêu người khác. Nhưng niềm vui ấy, Thiên Chúa biệt riêng cho Mẹ sao? Làm sao Mẹ có thể hiểu được trong toàn thể nhân loại, Mẹ là người nữ duy nhất được Chúa Cha tuyển chọn và uỷ thác chương trình cứu độ? Lời chào dành cho Mẹ “Đấng đầy ơn sủng” mang ý nghĩa gì, nếu không phải là một điều hoàn toàn mới lạ đối với Mẹ, khiến Mẹ sửng sốt bàng hoàng. Vâng, một điều rất lạ tai và quá ư vĩ đại là: Thiên Chúa đã ủy thác cho Mẹ vai trò làm Mẹ Đấng Cứu Thế.
Chặng 2 : việc ấy xẩy ra thế nào được vì tôi không biết đến việc vợ chồng? Việc ấy là việc nào? Thiên thần Gabriel cho Đức Mẹ hay Mẹ sẽ thụ thai và sinh hạ con Đấng Tối Cao, Con Mẹ sẽ làm vua nhà Giacóp đến vạn đại. Việc sinh ra không do tác động của người nam nào mà chỉ do quyền phép Chúa Thánh Thần. Làm sao hiểu được điều trái lẽ tự nhiên ấy? Những điều Mẹ vừa nghe thì quá lớn lao, vượt lòng mong ước, không ai có thể tưởng tượng nổi. Mẹ có thể tin vào giác quan của mình hay không? Mẹ có thể tin vào trí khôn của mình hay không? Hành trình đức tin của Mẹ dường như mỗi lúc càng căng thẳng và khó hiểu: “Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy nghĩ trong lòng” (Lc 2, 19)
Chặng 3 : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Có thể nói biến cố Truyền tin là biến cố mà qua đó Mẹ được nhận lãnh ơn đức tin, vì Thiên Chúa đã làm cho Mẹ có thể tin:
– Chúa Cha, Đấng sai Đức Giêsu xuống thế, 
– Chúa Con, Đấng ngự vào cung lòng Mẹ 
– Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho Mẹ được thụ thai. 
Lời xin vâng của Mẹ là con đẻ của đức tin, qua đó Mẹ “được tham dự ân sủng cứu độ và thánh hoá […] Mẹ được đón nhận sự sống từ Chúa Con […] Và vì “sự sống mới” ấy, Mẹ tiếp nhận trọn vẹn, xứng đáng với tình yêu của Chúa Con dành cho Thân Mẫu mình.” (x. T.Đ. Redemptoris Mater số 10) Thánh Augustino cho rằng Mẹ Maria đã cưu mang Ngôi Lời trong tâm hồn trước khi cưu mang trong thân xác.
Quả thực, lời Fiat hôm nay của Mẹ là nốt nhạc nền cho bản trường ca Magnificat suốt đời của Mẹ: “Nơi ngưỡng cửa nhà Elizabét, Mẹ đã tỏ bày một lời tuyên xưng của lòng tin được linh hứng, trong đó Mẹ đáp trả lời mặc khải bằng việc hướng cả con người về Thiên Chúa một cách thiêng liêng và thi vị. Trong những lời lẽ tuyệt vời ấy, vừa rất đơn giản vừa đầy cảm hứng từ những bản văn thánh của Israel, ta thấy được kinh nghiệm cá nhân và tâm hồn ngây ngất của Đức Maria […] Mẹ là người đầu tiên tham dự vào mạc khải mới mẻ của Thiên Chúa và trong đó, Mẹ được tham dự vào ân ban mới là chính Thiên Chúa.” (x.T.Đ. Redemptoris Mater số 36)
2. Không thể sống niềm tin AMEN nếu không thực thi FIAT
Chắc chắn Mẹ Maria đã hiện diện với các tông đồ và các tín hữu đầu tiên trong những lần họ họp nhau bẻ bánh: “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2, 42). Mẹ đã thưa tiếng Amen sau mỗi lần nhận lãnh Thánh Thể. Tiếng Amen của Mẹ bộc toát một niềm tin mạnh mẽ. Tiếng Amen cô đọng một chiều dài lịch sử Con Mẹ luôn ở với Mẹ, và giờ đây Mẹ được cưu mang lại người Con ấy trong một thái độ nội tâm đầy thánh thiện sốt mến của Mẹ, và chính vì vậy mà Mẹ xứng đáng để được tôn xưng là “người nữ Thánh Thể.”
Tiếng Amen miên trường vọng vang trong đời Mẹ, là một thúc đẩy hai chiều của lòng tin. Tin ở Đấng đang ngự trong lòng mình là Thiên Chúa, mà đồng thời cũng phải loan rao niềm tin ấy cho những người Mẹ gặp gỡ. Trình thuật Mẹ đi viếng Bà thánh Isave nói lên điều đó. Vì qua Mẹ, niềm tin của bà Elizabét được lớn lên, bà đã xác nhận rằng Đức Maria thật là Mẹ của Thiên Chúa: “Em thật là có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.” (Lc 1, 45) Và ngay cả Gioan trong bụng mẹ cũng nhảy mừng, nói lên niềm vui của những người đang mong đợi Đấng Cứu Thế, mà nay đã gặp.
Vì Mẹ có một đức tin tuyệt đối, nên Mẹ cũng có một đức tuân phục cao độ. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nối kết lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22, 19) và lệnh truyền của Mẹ tại tiệc cưới Cana: “Người bảo gì thì cứ làm theo” (Ga 2, 5). Hai lời răn dạy có chung một mục đích là làm điều Chúa truyền. Mẹ đã sống tuân phục và Mẹ cũng dạy những gia nhân sống tuân phục. Đức Maria sẵn sàng chấp nhận hoàn toàn những gì nằm trong chương trình của Thiên Chúa. Bên cạnh đó, Mẹ cũng ân cần quan tâm đến những nhu cầu và sự thiếu thốn của con người. Mẹ cũng thao thức cho họ nhanh nhạy đi theo kế hoạch của Ngài.
Đức Maria xứng đáng được gọi là “người có phúc vì đã tin.” Vì sau lời đáp trả “xin vâng” Mẹ đã bước vào hành trình tuân phục trong đức tin qua nhiều biến cố xảy đến trong đời Mẹ. Mẹ là mẫu người chỉ biết lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa. Đức Giêsu đã công nhận điều đó, khi một người phụ nữ lên tiếng ca ngợi “phúc thay bà mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm.” (Lc 11,27) Đức Giêsu trả lời “đúng hơn phải nói rằng phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa.” (Lc 11,28)
Cũng vậy, tiếng Amen của người tín hữu, tiếng Amen của Giáo Hội đã không ngừng vang vọng trong suốt cuộc lữ hành ở trần gian. Tiếng Amen nói lên niềm tin của Giáo Hội vào Bí Tích Thánh Thể về sự hiện diện của Chúa Giêsu dưới hình bánh và rượu, là Con Thiên Chúa và cũng là Con Đức Maria, hiện diện cách trọn vẹn gồm cả nhân tính lẫn thần tính của Ngài nữa. Tiếng Amen tuy thật quen thuộc và đơn giản trên bờ môi của người tín hữu, nhưng thâu tóm cả một chiều dài lịch sử lúc tỏ lúc mờ những thách đố của niềm tin. Điều đó cho thấy: “Cuộc lữ hành của Giáo Hội là cuộc lữ hành nhờ lòng tin “nhờ thần lực của Đấng Phục Sinh”, là cuộc lữ hành trong Thánh Thần […] Chính trong cuộc lữ hành của Giáo Hội, Đức Maria vaăn hiện diện như một người “hạnh phúc vì đã tin”, như một người tiến trong cuộc lữ hành của lòng tin, vì tham dự vào mầu nhiệm của Đức Kitô như bất cứ thụ tạo nào khác.” (x.T.Đ. Redemptoire Mater số 25)
Nếu như theo phán quyết Thánh Giacôbê: “Đức Tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2, 17) thì lời Fiat và những hành vi Fiat của Mẹ là những dẫn chứng sống động về niềm tin đáng cho mỗi người chúng ta suy nghĩ và cật vấn về lối sống hình thức của mình.Vì thế khi chúng ta tuyên xưng Amen mà không thực thi những lời Chúa chỉ dạy thì lời tuyên xưng của chúng ta không có ý nghĩa gì cả. Là lời tuyên xưng trống rỗng và vô nghĩa. Khi Tiếng Amen được thốt lên như một sự thâm tín Thiên Chúa đang hiện diện sống động trong lịch sử cuộc đời chúng ta, thì cũng bừng phát ngay một nếp sống Fiat tuân theo lời Ngài mà cao trổi hơn cả, quan trọng hơn cả là bài ca đức ái.
Amen là Fiat là một cặp song đôi không thể tách rời trong cuộc sống của Đức Maria và người tín hữu. Do vậy mà những yêu sách của hai tiếng Fiat và Amen sẽ luôn được thi hành đồng loạt. Khi Đức Maria tuyên lời Fiat thì cũng là lúc Mẹ đón nhận trong niềm tin, người Con trong lòng Mẹ là Con Thiên Chúa và từ giây phút ấy Mẹ sống Fiat miên trường trong niềm tin liên lỉ vào Thiên Chúa và chương trình cứu độ của Ngài. Nhưng xem ra còn rất nhiều lúng túng, khi mỗi người Kitô hữu chúng ta vẫn nói tiếng Amen một cách rất thường xuyên và quen thuộc mà trên trục quay Fiat, cuộc sống chúng ta không vận chuyển đều, hoặc có khi bị đứng lại. Cùng với Mẹ Maria, chúng ta tìm gặp Thiên Chúa để chính Ngài sẽ là kim chỉ nam định hướng lại những vận hành của niềm tin chúng ta.
Sr. Agnès Hoàng Thị Hòa  


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét