Thứ Bảy, 5 tháng 11, 2016

SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG

KHẨU TRANG BẠN ĐANG DÙNG

CÓ THỂ KHÔNG BẢO VỆ ĐƯỢC BẠN?
 

 

Lời giới thiệu: Các nhà nghiên cứu tại Khoa Khoa học Sức khoẻ Môi trường ở trường Đại học Massachusetts Amherst đã thử nghiệm tính hiệu quả của 4 loại khẩu trang ít tiền thông dụng ở các quốc gia đang phát triển (Bao gồm 3 loại khẩu trang bằng vải và 1 loại khẩu trang dùng trong phẫu thuật) và kết quả đã được công bố trên Journal of Exposure Science & Environmental Epidemiology của Springer Nature (ai muốn đọc thì PM cho tôi.) Dưới đây là bài viết của Richard E. Peltier, người đứng đầu nhóm nghiên cứu về những phát hiện của nhóm.

Bất cứ ai chỉ cần bước ra khỏi máy bay ở một trong những thành phố lớn ở các quốc gia đang phát triển đều phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm không khí sâu sắc và độc hại. Khí thải từ động cơ diesel và đốt rác đã làm nhiễm độc bầu không khí ở New Delhi, Jakarta, Accra, Kathmandu và nhiều thành phố khác. Điều đáng lo ngại nhất là bụi dạng hạt thường được tạo ra từ quá trình đốt cháy nhiên liệu phản ứng trong khí quyển. Những hạt vật chất này có kích thước rất nhỏ, còn nhỏ hơn nhiều một sợi tóc và chỉ có thể nhìn thấy dưới kính hiển vi. Khi các hạt này hình thành, gió có thể cuốn chúng đi và phát tán trên một phạm vi rộng lớn.

Mỗi năm có gần 6 triệu người chết sớm vì tiếp xúc phải bụi lơ lửng. Hầu hết người trong số này tử vong do các bệnh về tim, phổi và đột quỵ mà tác nhân gây ra chính là do tiếp xúc với những vật chất dạng hạt này. Nhưng cũng chính vì vậy mà nhiều người đã không nhận ra ô nhiễm không khí chính là nguyên nhân cơ bản của các bệnh gây chết người trên. Cũng bởi vậyngười ta chỉ nhìn ô nhiễm không khí đơn thuần là vấn đề chất lượng cuộc sống, chứ không phải là điều đáng lo ngại cho sức khoẻ cộng đồng.

Tại phòng thí nghiệm của tôi, chúng tôi nghiên cứu cách thức ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Gần đây chúng tôi đã phân tích tính hiệu quả của một số loại khẩu trang trong việc bảo vệ người tiêu dùng – trong đó có những loại đang được sử dụng rộng rãi ở các thành phố bị ô nhiễm nặng. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đã cho thấy không có loại khẩu trang nào có hiệu quả 100%, và đôi khi các loại khẩu trang bằng vải ít tiền mà phổ biến ở các quốc gia đang phát triển sử dụng có hiệu quả rất thấp trong việc bảo vệ người dùng. Những phát hiện này nhấn mạnh tính cấp thiết của việc phải giảm thiểu ô nhiễm không khí trong cộng đồng, và cung cấp những cách thức bảo vệ tốt hơn bằng cách dạy cho mọi người những cách để tránh phải tiếp xúc với ô nhiễm không khí.

Vải so với giấy

Ở các quốc gia đang phát triển đang có xu hướng hàng triệu người chuyển tới sống ở thành thị, nơi họ sẽ hàng ngày phải tiếp xúc với ô nhiễm không khí ở các mức nguy hiểm khác nhau. Theo tổ chức Y tế Thế giới, 98% các thành phố ở các quốc gia thu nhập thấp và thu nhập trung bình đã không thực hiện được hướng dẫn của tổ chức này về chất lượng không khí. Tỷ lệ này chỉ có 56% ở các quốc gia có thu nhập cao. Trong một ngày xấu trời ở New Dehli, mật độ bụi lơ lửng có thể đạt tới 350 micrograms trên 1 mét khối không khí, so với một ngày bị coi là bị ô nhiễm ở Houston, mật độ bụi lơ lửng cũng chỉ khoảng 20 micrograms trên 1 mét khối không khí.

Trong thí nghiệm của chúng tôi, chúng tôi đã so sánh sáu loại khẩu trang làm từ các loại vật liệu bao gồm vải, giấy và polypropylene (xem ảnh kèm theo). Để đo được mức độ bảo vệ người dùng của những khẩu trang này, chúng tôi đeo mỗi loại khẩu trang lên một mô hình giả đầu người được đặt trong một buồng kín. Sau đó chúng tôi xả đầy buồng với bụi lơ lửng rồi đo nồng độ bụi bên trong buồng và đi qua khẩu trang.

Sáu loại khẩu trang được sử dụng trong thí nghiệm của Richard E. Peltier và cộng sự

Chúng tôi đặc biệt tò mò về các loại khẩu trang bằng vải ít tiền được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia đang phát triển. Đây chỉ đơn giản là những mảnh vải có tính co giãn, được đeo phủ qua miệng và mũi và giữ bởi các sợi vòng qua tai. Chúng có thể dễ dàng mua được với số tiền chưa tới 1 USD, và có thể giặt và tái sử dụng nhiều lần. Bởi vậy chúng thường được ưa chuộng ở những thành phố có thu nhập thấp.

Kết quả thí nghiệm của chúng tôi cho thấy những khẩu trang thông dụng nhất ở các nước đang phát triển lại có tính hiệu quả thấp nhất, chỉ có thể lọc bỏ được 15-57% lượng bụi trong luồng khí đi qua chúng. Điều này có nghĩa là trong một ngày bị ô nhiễm ở New Delhi, sẽ có khoảng 300 micrograms bụi lơ lửng trong 1 mét khối khí vẫn lọt qua khẩu trang đi vào phổi người đeo, gấp 10 lần nồng độ tiêu chuẩn của WHO.

Chúng tôi cũng kiểm tra khẩu trang N95, làm từ polyprolene. Trong điều kiện phòng thí nghiệm và mẫu thử nghiệm là các hạt muối có đường kính 300 nm, khẩu trang này có thể loại bỏ được 95% tổng số hạt. Đây là tiêu chuẩn được sử dụng để bảo vệ công nhân phải tiếp xúc ngắn hạn với môi trường có nguy cơ ô nhiễm cao như khai thác mỏ, cơ khí, hay các ngành nghề độc hại khác.

Cũng có những loại khẩu trang khác, bao gồm các loại khẩu trang có nếp gấp làm bằng vải và cellulose, cũng hoạt động hiệu quả như mặt nạ N95. Tuy nhiên, không có loại khẩu trang nào trong số những loại mà chúng tôi đã kiểm tra, bao gồm cả N95, có hiệu quả đặc biệt trong việc lọc hỗn hợp không khí và chất thải diesel, thứ mà cư dân thành phố có thể gặp phải trên một con đường bận rộn ở bất kỳ đâu trên thế giới.

Mặc dù thí nghiệm của chúng tôi tập trung vào bụi lơ lửng, cũng cần phải lưu ý rằng ô nhiễm không khí bao gồm một hỗn hợp rất nhiều hoá chất, nhiều nguồn khác nhau, và các hạt vật chất siêu nhỏ với nhiều kích thước khác nhau và có thể thay đổi kích thước theo thời gian. Nhìn chung, tất cả các loại khẩu trang mà chúng tôi đã kiểm tra đều lọc tương đối tốt các hạt vật chất có kích thước lớn nhất. Loại ít tiền nhất chỉ có thể lọc được bụi mịn ở mức độ rất khiêm tốn, và không có loại khẩu trang nào có thể bảo vệ được người dùng 100%.

Hơn thế nữa, mỗi người sẽ có hình dạng và kích thước gương mặt khác nhau, nên khẩu trang có thể đeo vừa khít với người này nhưng không khít với người khác. Trong các điều kiện được kiểm soát ở nơi làm việc thì không khó để bảo đảm sử dụng khẩu trang đúng cách, nhưng cư dân bình thường thì có thể sẽ không biết cách điều chỉnh khẩu trang sao cho vừa khít với mặt mình. [Và điều này cũng ảnh hưởng tới tác dụng bảo vệ của khẩu trang – ND]

Sự cần thiết phải có những lựa chọn tốt hơn

Trên thực tế thì bụi lơ lửng ở những thành phố bị ô nhiễm nặng có kích thước nhỏ hơn các hạt 300 nm mà chúng tôi sử dụng trong phòng thí nghiệm của chúng tôi, đặc biệt là ở những nơi gần nguồn đốt như xe hơi, xe tải hay các đám cháy. Kích thước hạt càng nhỏ thì sẽ càng khó lọc bỏ. Ngay cả N95 cũng không phải được thiết kế để dùng đối phó với các nguồn ô nhiễm không khí đô thị truyền thống. Điều đó có nghĩa là ngay cả khi người dân ở những quốc gia đang phát triển mà có đủ tiền mua N95 – số người có khả năng này không nhiều – thì một lượng đáng kể các hạt bụi độc hại vẫn có thể đi vào được phổi của họ.

Một số nhà sáng chế đã thiết kế những khẩu trang vải tốt hơn giống với N95 dành cho người dân bình thường. Những thiết kế mới này đạt được tiêu chuẩn của N95, nhưng vẫn còn chưa rõ nó sẽ hoạt động hiệu quả đến đâu cho một người lái taxi ở Karrachi hay một người đứng trông cửa hàng ở Sài Gòn. Đa số người dân ở các nước đang phát triển lại không thể mua được loại khẩu trang này, bởi vậy mà rất có thể hầu hết người dân ở các thành phố bị ô nhiễm vẫn sẽ sử dụng những khẩu trang vải ít tiền, mà giờ đây chúng ta đã biết là nó sẽ không bảo vệ được chúng ta nhiều như mong đợi.

Vậy có thể thiết kế được một loại khẩu trang vừa tiền cho đa số mọi người mà vẫn có hiệu quả tốt? Có thể chứ. Nhưng cho đến khi điều này xảy ra, chúng ta không thể cho phép người dùng khẩu trang tưởng rằng họ hoàn toàn được bảo vệ từ không khí ô nhiễm. Có những loại khẩu trang có hiệu quả bảo vệ nhất định, vậy vẫn còn tốt hơn là không có gì. Nhưng mỗi người nên tự điều chỉnh việc phải tiếp xúc với không khí ô nhiễm theo những cách khác như chọn nơi để sống, hay có nên giữ thói quen hút thuốc, có nên chấp nhận đi trên những con đường đang bị tắc nghẽn giao thông, và dài hạn hơn là chúng ta cần phải làm việc để giảm mức độ ô nhiễm ngay ở nguồn gây ra ô nhiễm.

Nguồn: daminhvn.net


ĐÂY LÀ LÝ DO VÌ SAO

CHÚNG TA CÓ MỘT THẾ HỆ NGƯỜI TRẺ 


LÚC NÀO CŨNG "LẢI NHẢI" VỀ ĐAM MÊ,

ĐẦY ẢO TƯỞNG VÀ NGHĨ MÌNH ĐẶC BIỆT
 
Đây là lý do vì sao chúng ta có một thế hệ người trẻ lúc nào cũng "lải nhải" về đam mê, đầy ảo tưởng và nghĩ mình đặc biệt
 
Đây là Lucy, cô ấy là người thuộc thế hệ Y, tức là sinh ra trong khoảng năm 1970 đến đầu thập niên 90. Cũng như bao người thuộc thế hệ Y khác, cô Lucy cũng luôn nghĩ rằng họ là trung tâm của cuộc sống, luôn có thứ gì đó đặc biệt hơn người khác.
 
Mặc dù Lucy cảm thấy thoải mái khi cho mình là trung tâm của mọi thứ cũng như điều kiện sống hiện tại, nhưng Lucy lại không hạnh phúc. Tại sao vậy?
 
Trước khi giải đáp câu trả lời này, chúng ta cần định nghĩa lại thế nào là hạnh phúc. Nói một cách đơn giản, hạnh phúc là phép trừ giữa thực tại và kỳ vọng của một người.
 
Nếu thực tại tốt hơn kỳ vọng của một người, anh hay cô ấy sẽ hạnh phúc và ngược lại, nếu thực tại thấp hơn kỳ vọng thì sự không hạnh phúc sẽ sản sinh.
 
Để hiểu rõ hơn tại sao Lucy không hạnh phúc, hãy bắt đầu từ bố mẹ của Lucy.
 
Bố mẹ của Lucy là những người sinh vào thập niên 50, hay còn gọi là thế hệ Baby Boomers. Họ được nuôi dạy bởi ông bà của Lucy, những người sống qua thời kỳ Thế chiến II cũng như cuộc đại suy thoái thập niên 30.
 
Với ánh hưởng của suy thoái kinh tế, ông bà của Lucy bị ám ảnh bởi sự an toàn và luôn hướng ba mẹ Lucy theo con đường sự nghiệp an toàn, không mạo hiểm. Đương nhiên, để đi đến thành công thì ba mẹ của Lucy được dạy họ phải cố gắng làm việc chăm chỉ trong thời gian dài để có sự nghiệp của riêng mình.
 
Nếu ví sự nghiệp an toàn của ba mẹ Lucy như những bãi cỏ xanh phẳng lì thì quá trình phấn đấu của họ sẽ như sau:
 
 
May mắn thay, nền kinh tế Mỹ dần hồi sinh trong thập niên 70, 80, 90 và thu nhập của người dân ngày một cao. Nhờ đó, con đường sự nghiệp của ba mẹ Lucy dễ dàng hơn so với thế hệ trước, khiến họ có quan điểm thoải mái và lạc quan hơn.
 
Vì nguyên nhân này, ba mẹ Lucy nuôi dạy con cái dễ dàng hơn so với thời trước, truyền cho Lucy quan điểm rằng cô có khả năng vô hạn và có thể làm bất cứ điều gì mình muốn.
 
Không riêng gì nước Mỹ, quan điểm này dần được truyền bá rộng rãi giữa các bậc phụ huynh và những người thế hệ Y được dạy rằng họ có thể làm nhiều thứ miễn là có đam mê, tự tin.
 
Kết quả là một sự nghiệp thành công theo quan điểm của thế hệ Y không còn là 1 bãi cỏ xanh phẳng lỳ an toàn nữa mà có thêm hoa lá cành.
 
Có thể thấy, câu chuyện của nước Mỹ cũng giống hệt với những gì đang diễn ra tại Việt Nam, sự khác biệt nếu có, chỉ là những thay đổi đôi chút về các mốc thời gian. Tuy nhiên, kết quả vẫn vậy và cách giáo dục này đem lại một số hệ lụy:
 
1. Những con người đầy tham vọng
 
Thế hệ Y cảm thấy không thỏa mãn với sự nghiệp an toàn giống như ba mẹ mình nữa, họ muốn được làm điều gì đó khác biệt, muốn theo đuổi giấc mơ của chính mình chứ không muốn sống bình thường như những người khác.
 
Thống kê của Google cho thấy cụm từ “hãy theo đuổi đam mê của bạn” mới chỉ xuất hiện nhiều trong vòng 20 năm trở lại đây. Trong khi đó, cụm từ “một sự nghiệp an toàn” đang dần không còn phổ biến, thay vào đó là cụm từ “xây dựng sự nghiệp bản thân” được thế hệ Y tìm kiếm nhiều hơn.
 
 
 
Trên thực tế, thế hệ Y cũng muốn có một sự nghiệp thành công như cha mẹ họ đã từng làm, chỉ có điều họ tham vọng hơn và muốn đi theo con đường riêng của họ.
 
Mặc dù vậy, Lucy lại được cha mẹ “bơm” thêm một quan điểm nữa từ thời bé, đó là cô rất đặc biệt, qua đó dẫn đến hệ lụy thứ 2 của thế hệ Y.
 
2. Sự ảo tưởng
 
Với sự ảo tưởng được nuôi dạy từ thời bé rằng cô rất đặc biệt, Lucy cho rằng tất cả thế hệ Y rồi sẽ xây dựng được một sự nghiệp thành công nhưng do bản thân là người đặc biệt nên công việc và cuộc sống của cô cũng sẽ khác mọi người.
 
Như vậy, sự nghiệp của Lucy theo kỳ vọng của cô không chỉ là bãi cỏ xanh với đầy hoa lá nữa mà còn cao xa hơn với một chú kỳ lân bay bổng bên trên.
 
 
Đây là những gì thế hệ Y định nghĩa về sự đặc biệt mà bậc phụ huynh đã giáo dục họ từ thời bé. Tuy nhiên sự “đặc biệt” là ám chỉ những người giỏi hơn hoặc khác biệt so với người bình thường. Vì vậy hầu hết thế hệ Y chỉ là người bình thường.
 
Thậm chí như vậy, Lucy vẫn nghĩ rằng mình là một trong rất nhỏ những người đặc biệt, khác biệt hoặc giỏi hơn người khác.
 
Hậu quả là khi ba mẹ của Lucy muốn con gái có một sự nghiệp an toàn, đạt được thành công sau nhiều năm phấn đấu thì cô lại cho rằng thành công là điều hiển nhiên với mình và vấn đề hiện nay chỉ là chọn con đường nào để đến đích.
 
 
Thật không may, thực tế không như là mơ khi sự thành công là kết quả của nhiều năm phấn đấu, vất vả. Kết quả là nhiều người thuộc thế hệ Y vỡ mộng hoặc bắt đầu than vãn rằng họ không nhận được những gì xứng đáng với bản thân.
 
Lucy có ước mơ, tham vọng lớn cùng nhiệt huyết của tuổi trẻ khi mới ra trường khiến có đánh giá sai lầm về thực tế. Hậu quả là sự thất vọng, chán nản, tức giận bắt đầu lan tràn khiến Lucy không hạnh phúc.
 
Tồi tệ hơn, sự thất vọng này bắt đầu sản sinh những hệ lụy tiếp theo.
 
3. Sự ganh ghét
 
Chắc chắn rằng bố mẹ của Lucy có những người bạn hay người cùng thế hệ thành công hơn họ. Tuy nhiên, do giới hạn của công nghệ, viễn thông mà hầu như bố mẹ của Lucy chỉ được nghe sự giàu có, thành công của bạn bè cùng lứa qua người khác.
 
Trái ngược lại, Lucy thấy nhan nhản những hình ảnh sang chảnh, thành công, giàu có, hưởng thụ, hạnh phúc của bạn bè cùng lứa trên các trang mạng xã hội, truyền thông đại chúng.
 
Điều này dẫn đến những quan điểm rất lệch lạc ngoài sự ganh ghét, tự kỷ về bản thân. Lucy cho rằng những người thường xuyên khoe khoang là thành công, trong khi bản thân không có gì. Cô cũng ảo tưởng rằng người khác đang làm tốt hơn mình rất nhiều, trong khi thực tế chưa chắc họ đã làm tốt hơn cô.
 
Vậy đó, Lucy buồn vì dù sự nghiệp của cô khá ổn nhưng cô ảo tưởng quá nhiều để rồi thất vọng. Lucy buồn bởi cô thấy bạn bè cô hạnh phúc, thành công hơn cô mà chẳng biết thực tế họ có như vậy không hay họ đã phải đánh đổi những gì để có điều đó.
 
Giờ đây, Lucy nên làm gì tiếp theo?
- Tiếp tục tham vọng: Cho dù thế nào, thế giới cũng tràn ngập cơ hội cho những người tham vọng và muốn thành công. Vì vậy dù không có kế hoạch cụ thể thì việc giữ tinh thần lạc quan, khát vọng vươn lên luôn giúp Lucy đi được đến thành công nào đó.
 
- Ngừng ảo tưởng: Thực tế, Lucy không hề đặc biệt, hay chính xác hơn là chưa đặc biệt. Lucy mới chỉ là một cô gái mới ra trường chưa có kinh nghiệm và đương nhiên không thể nhận được những lời mời, sự tôn trọng hay những kỳ vọng mà cô mong muốn. Lucy chỉ trở nên đặc biệt sau một thời gian lao động chăm chỉ, tích lũy kinh nghiệm và hoàn thiện bản thân.
 
- Mặc kệ người khác: Một thực tế nữa là dù có khoe khoang thế nào, những người cùng thế hệ với Lucy cũng có những khó khăn và vấn đề của riêng họ. Bản thân họ cũng cảm thấy nghi ngờ về bản thân, ganh ghét với người khác và thậm chí không hạnh phúc. Vì vậy, nếu Lucy tập trung làm việc của mình và ngừng quan tâm đến chuyện người khác, cô sẽ thấy hạnh phúc hơn rất nhiều và không có lý do gì phải ghen tỵ với ai cả.
Nguồn:
Băng Tâm
Theo Trí Thức Trẻ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét