Linh mục được đào tạo, huấn luyện để phục vụ Chúa, phục vụ Giáo Hội, và các linh hồn. Trong sứ mệnh giúp đỡ các tín hữu, đương nhiên linh mục cũng cần phải hiểu biết và có trách nhiệm giúp đỡ họ về ơn gọi và đời sống hôn nhân. Nhưng coi chừng, trong khi giúp đỡ, hóa giải những khó khăn về tình yêu, hôn nhân và gia đình cái bẫy sập đang chờ đón cả linh mục và người được giúp đỡ, đặc biệt, những người đến với linh mục là phụ nữ.
Điều này được viết lên với tâm tình rất chân thành mong sao các linh mục hiểu để tự giới hạn và kiềm chế, cũng như những ai đang đặt kỳ vọng nơi các linh mục cần biết về sự khác biệt và giới hạn giữa vị linh mục và một chuyên gia tâm lý cả trong tòa giải tội cũng như trong các cuộc tiếp xúc riêng tư. Những trường hợp linh mục sa ngã vì có liên quan đến những cuộc gặp gỡ, khuyên bảo hay counseling như vậy không ít. Đau khổ và tồi tệ nhất nếu xảy ra là khi vị linh mục đó ngả vào vòng tay của người mà mình đang giúp đỡ dẫn đến hậu quả là phá vỡ hạnh phúc hôn nhân của người khác, và thêm một trọng tội cho đời thánh hiến. Đã có trường hợp người chồng định mang súng đến thanh toán vị linh mục vì cho rằng đã quyến rũ vợ của mình cũng như làm tan vỡ hạnh phúc hôn nhân gia đình của mình.
Ngoài ra, trong những trường hợp khi hôn nhân bị sóng gió, tình cảm được vuốt ve, đặc biệt là nữ giới, những ý kiến dù là sai của linh mục vẫn được coi trọng, vẫn được xem như một chiếc phao cho người đang chới với, đang vùng vẫy giữa dòng. Đây cũng là lý do khiến cho nhiều cuộc hôn nhân thay vì được hàn gắn lại trở nên rạn nứt và đổ vỡ.
Thật ra, không thiếu những linh mục có kinh nghiệm về tình yêu, hôn nhân, và gia đình; cũng như không thiếu những linh mục có học vị tiến sỹ tâm lý. Nhưng cần hiểu rằng khả năng tâm lý ấy chỉ hữu hiệu khi những linh mục này khuyên giải, và hướng dẫn những người đang gặp khủng hoảng theo chiều hướng tâm linh là giúp họ tìm và hiểu ra những giá trị cao quí của ơn gọi, đồng thời giúp hàn gắn những đổ vỡ nhằm duy trì và phát triển đời sống hôn nhân. Do đó, nếu linh mục lại quên mình là linh mục mà đóng vai một tâm lý gia chuyên nghiệp, thì theo kinh nghiệm, rất khó cho cả người đến với linh mục, cũng như cho chính vị linh mục. Trên thực tế, tôi cũng quen biết vài linh mục hành nghề tâm lý nhưng là sau khi các vị này hồi tục, không còn là linh mục nữa. Hoặc cũng có những linh mục làm counselor, bác sỹ trị liệu cho các nhà thương, các đoàn thể xã hội, nhưng không mấy ai mở văn phòng chuyên về tình yêu, hôn nhân và gia đình.
Sau đây là một trong nhiều trường hợp mà những ngộ nhận về sự không chuyên môn, nhưng lại muốn cường điệu của một linh mục:
Trong khi gặp khủng hoảng về hôn nhân, người vợ đã tỏ ra ghen tương và tìm cách khống chế chồng mình. Cô đã buồn khổ, khóc lóc, và như thất vọng vì cho rằng cả năm nay rồi mà chồng cô vẫn không thấy thay đổi gì. Trong con mắt của cô, chồng cô có rất nhiều khuyết điểm mà cái khuyết điểm lớn nhất là không làm theo ý cô, không sửa mình, và không hoán đổi theo như cô mong muốn.
Để có thêm người đứng về phía mình, cũng như để tự an ủi mình, cô đã tham dự nhiều cuộc hội thảo về tình yêu, về hôn nhân, và về gia đình. Cô cũng đã tìm đến một vài văn phòng bác sỹ tâm lý, trong đó có cả những vị linh mục. Dĩ nhiên, cô đã tìm đến với Chúa và Đức Mẹ nữa. Với Chúa và Đức Mẹ, ngày đêm cô van xin, khóc lóc xin ơn cải thiện cho chồng cô, và ơn giúp chồng cô biết cách sửa đổi theo ý cô. Tuyệt nhiên, cô không xin cho mình cũng biết cách thích nghi, thay đổi để làm thế nào cô có thể sống bằng an và hòa thuận với chồng.
Trong số các linh mục mà cô đã gặp, có một vị tự cho mình được huấn luyện từ những trường sở nổi tiếng và chuyên môn tâm lý, đã có nhiều kinh nghiệm trong việc khải dẫn về hôn nhân, gia đình nên đã khuyên cô thế này: “Nếu con thấy chồng con có dấu hiệu hoặc hành động ngoại tình mà khiến cho con phải chịu đựng như vậy thì cứ để hắn ta đi đi theo ý hắn muốn. Con là lá ngọc cành vàng, là người phụ nữ trẻ đẹp, có học thức, người vợ đạo đức, đàng hoàng thì trước sau gì chồng con cũng sẽ phải trở về với con. Con nên nhớ lại bài học đứa con hoang đàng trong Phúc Âm. Chồng con cũng vậy, chừng nào không còn cám heo ăn nữa, nó tự động sẽ về”.
Lời khuyên xem ra hợp ý cô, và cũng có lẽ nó đã ve vuốt phần nào cái tôi của cô nên khiến cô cảm thấy rất được an ủi. Cô đã ca tụng vị linh mục này không tiếc lời. Theo cô, đó mới là điều mà cô muốn tìm kiếm. Cô không cần phải làm gì cả, nhưng cứ ngồi chờ đến một lúc nào đó chồng cô sau khi đã thân tàn ma dại, bị bỏ rơi hất hủi sẽ tự động quay về với cô, và lúc ấy cô sẽ tùy tiện sai khiến.
Dưới cái nhìn đạo đức và tâm lý thì đây quả thật là một lời khuyên, một ý kiến rất phản đạo đức, rất phản tâm lý! Một người bình thường cũng không ai khuyên người khác hoặc bạn mình “cứ để chồng đi đi … chừng nào không còn cám heo ăn nữa, nó tự động sẽ về”. Một lời khuyên không tìm đâu ra hình bóng của tình yêu và đạo đức. Khi một người vợ, nếu biết chồng mình ngoại tình mà cứ để cho muốn đi thì đi chừng nào chán chê thì về; hoặc nhìn chồng bị những người phụ nữ khác bỏ rơi sau khi đã lợi dụng mà không làm một cái gì để ngăn cản, để giữ lấy và để giúp cho chồng có cơ hội bừng tỉnh, hoàn lương thì tính đạo đức và tình yêu của người vợ này ở đâu?
Và câu hỏi là đến bao giờ thì người đàn ông, người chồng ấy sẽ về; đặc biệt, nếu đó là một người đang có tiếng tăm, có dư thừa tiền bạc. Trước, sau, bên phải, bên trái người này là những thiếu nữ mặn mà hương sắc và tài năng đang mong được ông để ý tới. Như vậy liệu những phụ nữ này có quảng đại để trả người đó về cho vợ của ông ta sau khi ông đã lọt vào vòng tay của họ không? Với cái nhìn tâm lý và xã hội thì sẽ chẳng bao giờ chuyện buông tha như thế xảy ra một cách dễ dàng. Tú Xương là người có kinh nghiệm này khi ông tự thú:
“Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được thứ nào hay thứ ấy
Có chăng chừa rượu với chừa trà”.
Như vậy, theo Tú Xương cái khó không phải là do những phụ nữ kia, mà là do những người đàn ông trong trường hợp này không muốn từ bỏ, không muốn quay về. Đó là chưa kể đến nền tảng của hai chữ chung thủy đã bị con người thời nay bỏ quên hoặc đang bị lung lay tận gốc rễ!
Mặt khác trong lãnh vực tâm linh, chắc Chúa sẽ không sửa đổi hoặc làm lại một tác phẩm mà Ngài đã hoàn thành một cách tốt đẹp để chiều theo ý một người khác. Tại sao Chúa phải sửa đổi một người để làm vui lòng một người khác. Có bao giờ một họa sỹ tài danh trong khi triển lãm một tác phẩm ưng ý nhất của mình lại phải lấy xuống, sửa lại, vẽ lại theo ý một người nào đó?
Còn xét về mặt chuyên môn, lời khuyên tối thiểu trong trường hợp này của vị linh mục phải là: “Nếu bà muốn chồng bà sửa đổi, thì liệu bà có cần sửa đổi gì cho phù hợp với cuộc sống hôn nhân hiện nay của hai người không?” Hoặc “Bà có nghĩ là công bằng nếu bà chỉ đòi hỏi chồng bà sửa đổi, còn về phần bà thì không cần phải sửa đổi gì không?” Trên đời này: “Không ai tốt một trăm phần trăm, và cũng không ai xấu một trăm phần trăm .” (Baden Powell). Nhưng thật là bất công nếu chỉ đòi hỏi người khác sửa đổi mà mình không sửa đổi.
Sửa đổi “theo ý tôi”. Đây mới là yếu tố khiến gia đình và đời sống hôn nhân của cô gặp phải sóng gió. Cô tự ty và tiêu cực đến không muốn vươn lên, không muốn có một sự đổi đời để mang lại hạnh phúc cho hôn nhân của mình. Dĩ nhiên, còn nhiều yếu tố khác nhau về tâm sinh lý, ảnh hưởng giáo dục, tâm linh, nhân sinh quan, vũ trụ quan, triết lý sống giữa hai người, vậy làm sao để sửa được một người chồng hoặc người vợ theo ý mình. Nhiều khi chính cô cũng không hiểu mình, không biết mình muốn gì thì làm cách nào chồng cô biết để mà chiều theo? “Đàn bà thay đổi như thời tiết .” Nếu nhận định này đúng, thì việc một người chồng chạy theo ý vợ mình càng không dễ dàng thực hiện.
Viết về những lời khuyên đại loại như trên khiến tôi nhớ lại một lời khuyên khác của một linh mục đã cố vấn cho một phụ nữ khi người này đau khổ vì bị chồng hành hung, đánh đập. Sau đây xin diễn tả thanh thoát lời vị linh mục này mà nguyên văn không tiện viết ra: “Muốn chồng yêu, thì hãy về vuốt ve, ân ái và chiều chuộng nó cho nó sung sướng lên”. Vị linh mục có ý nói về sinh hoạt tình dục, cách thức mà người vợ cần làm để thỏa mãn chồng, hy vọng chiếm đoạt được tình yêu của chồng. Nhưng tiếc thay, nguyên nhân của việc hành hung chính là vì người chồng muốn có tiền để đi đánh bạc. Đó là lý do tại sao lời khuyên ấy đã trở thành một giấc mơ kinh hoàng (nightmare) cho người phụ nữ này mà mãi đến bây giờ mỗi khi nhớ lại bà còn cảm thấy hoang mang, sợ hãi.
Do tính “cường điệu” của một số linh mục khi cố vấn và khuyên bảo về hôn nhân, gia đình mà đã và đang gây ra những hậu quả tiêu cực, tai hại cho cả hai phía. Không phải hễ là linh mục thì biết hết mọi thứ. Không phải hễ là linh mục thì muốn lao vào những dịp cám dỗ hiểm nghèo như thế nào cũng được Chúa gìn giữ! Trong thực tế, có nhiều lời khuyên, nhiều ý kiến, và nhiều hoàn cảnh mà vị linh mục chẳng những không giúp gì cho các cuộc hôn nhân, ngược lại, còn phá vỡ, gây chia rẽ, và nguy hiểm cho ơn gọi của mình.
Tóm lại, là những Kitô hữu chân chính, chúng ta nên dành cho các linh mục lòng yêu mến, sự kính trọng xứng đáng với thánh chức. Đồng thời nên tuân theo sự hướng dẫn tâm linh, đạo đức của các vị.
Tuy nhiên, trong những lãnh vực chuyên môn khác, thí dụ, về vấn đề tình yêu, hôn nhân và gia đình thì cũng cần phải khôn ngoan và thận trọng.
Đơn giản vì phần đông các linh mục không phải là những chuyên gia tâm lý, nhất là họ không được đào tạo để hành nghề bác sỹ tâm lý hôn nhân gia đình.
*************************************************
Não Trạng “Cha Là Chúa”
Trần Mỹ Duyệt
Cứ mỗi lần đám bạn cũ chúng tôi gặp nhau là mọi thứ chuyện trên trời dưới đất được mang ra bàn thảo, dĩ nhiên, có cả những chuyện liên quan đến ông cha này, thày chùa kia, bà dòng nọ … được báo chí, truyền thông nhắc tới do những bùng xùng mà họ gây ra. Mẹ tôi một con chiên ngoan đạo, nên mỗi khi nghe đến những chuyện cha thày thì bà làm dấu thánh giá, xua xua đôi tay, miệng không ngừng lên tiếng bênh vực:
“Gớm nhỉ, sao các anh không đi tu làm cha đi mà cứ ngồi đó bàn ra tán vào. Động chạm đến cha là động chạm đến Chúa đấy. Chúa mà nghe thấy, Chúa phạt cho lòi con mắt ra cho mà chừa .”
Rồi như để bảo đảm cho lời mình nói, mẹ tôi bao giờ cũng kể lại những câu chuyện mà chả biết bà nghe ở đâu, và cũng chẳng biết nó xẩy ra bao giờ, đại khái là ở làng nọ có cái thằng khô khan nguội lạnh một lần nó cãi cha nên bị sét đánh chết khi ra ngoài đồng cày ruộng.
Tin “cha là Chúa”. Có lẽ nhiều người ngày nay, đặc biệt là giới trẻ hải ngoại thì không mấy ai tin rằng cha là Chúa. Não trạng này họa may chỉ còn rơi rớt lại trong tư tưởng của những người lớn cỡ chừng 70 trở lên.
Nhưng tại Việt Nam thì khác, có thể nói phần đông người Công Giáo vẫn tin rằng “cha là Chúa”, và một cách nào đó, làm gì ngược ý cha, ngay cả việc sửa sai, góp ý với cha cũng cùng một nghĩa là chống Chúa, xúc phạm đến Chúa.
Như vậy nếu tin hay không tin cha là Chúa thì khác nhau ở chỗ nào?
Khác lắm chứ, tin cha là Chúa là một tư tưởng chủ quan phát xuất từ lối sống đạo thụ động và cuồng tín.
Nó làm cho vai trò các linh mục ngày càng trở nên cao ngạo, mất hẳn ý thức về con người thực tế của họ, và từ đó có những cung cách cư xử, hành động không giống Chúa, và cũng không phản ảnh hình ảnh Chúa.
Phần giáo dân thì không mở mang được tầm nhìn, không nhận ra vai trò Kitô hữu của mình trong đời sống tâm linh, đời sống Giáo Hội một cách trưởng thành.
Ngược lại, không tin cha là Chúa sẽ đem lại cho cả linh mục và giáo dân vị trí đúng của mình.
Cùng nhau phát triển ơn gọi trong THIÊN CHỨC là con Thiên Chúa, (THIÊN CHỨC quan trọng hơn THÁNH CHỨC nhiều)
là anh em với nhau như Thánh Phaolô Tông Đồ đã nói với giáo đoàn Côrinthô:
“Đặc sủng chia làm nhiều, nhưng cũng chỉ một Thần Khí. Phục vụ chia làm nhiều, nhưng cũng là một Chúa (1 Corintho 12:4-5). (Bản dịch Lm. Nguyễn Thế Thuấn),
cũng như giáo đoàn Rôma:
“Cũng như trong một thân thể, chúng ta có nhiều bộ phận, mà các bộ phận không có cùng một chức năng”. (Roma 12:4).
Vậy linh mục là ai?
Theo Đức Giám Mục Nguyễn Soạn:
“Ngày nay, linh mục có uy tín và thế giá, không phải chỉ vì ông được thụ phong linh mục, có chức thánh, mà quan trọng là do đời sống tông đồ và mục vụ của mình. Bởi lẽ, xưa kia người ta coi linh mục là người thông biết mọi sự. Ngày nay, cùng với sự phổ thông văn hóa, linh mục không còn là người duy nhất nắm giữ kiến thức. Người giáo dân bây giờ cũng thông thái, có khả năng chuyên môn, ngay cả cũng đào sâu Kinh Thánh, giáo luật; có những người có bằng cấp cao trong các trường đại học công giáo. Còn về tu đức, có những giáo dân được công nhận như bậc thầy. Họ cũng giảng phòng, làm cố vấn thiêng liêng như các linh mục, chẳng hạn như anh Francois Duff, sáng lập Legio Mariae .”
Trong thánh lễ truyền chức linh mục, Đức Giám Mục hỏi ứng viên:
- “Con quý mến, con có muốn trở thành linh mục, cộng tác viên của Giám Mục trong chức linh mục, để phục vụ và dẫn dắt Dân Chúa dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần không?”
- “Con có muốn trung thành chu toàn tác vụ Lời Chúa, nghĩa là rao giảng Tin mừng và trình bày giáo lý Đức Tin công giáo theo truyền thống của Hội Thánh để ngợi khen Thiên Chúa và thánh hóa Dân Kitô giáo không?”
- “Con có muốn mỗi ngày kết hiệp với Linh Mục Thượng Phẩm là Chúa Kitô, Đấng tận hiến mình cho Cha Người và với Người, thánh hiến con cho Thiên Chúa để cứu rỗi loài người không ?”
Các câu hỏi trên đây trình bày súc tích căn tính của linh mục, đó là hợp tác với Giám Mục điều hành dân Chúa, rao giảng Lời Chúa và trao ban các Bí tích. (GM Phêrô Nguyễn Soạn, VietCatholic News (28/02/2005)
Tóm lại, một vị linh mục khi nhận thừa tác vụ từ tay giám mục, đúng nghĩa chỉ là cánh tay nối dài của giám mục. Có bổn phận phụ tá cùng với giám mục săn sóc, hướng dẫn và phát huy đời sống tinh thần nơi những người mà mình được trao phó và ủy thác. Do đó, nếu xét về cốt lõi ơn gọi Kitô hữu qua Bí Tích Rửa Tội, thì linh mục cũng chỉ hơn giáo dân ở chức vụ linh mục thừa tác . Nhờ chức vụ thừa tác này, các linh mục được đại diện Giáo Hội, đại diện cộng đoàn dâng lễ, ban các bí tích.
Ngoài ra, nếu xét về các đoàn sủng khác mà Thần Khí là Thánh Thần ban cho các Kitô hữu trong Giáo Hội thì giữa linh mục và giáo dân có những đặc sủng rất khác nhau.
Thí dụ, khi người ta bước vào một ngôi thánh đường nguy nga, lộng lẫy thì đó có phải là do linh mục xây dựng nên hay đó là do công lao đóng góp của bao nhiêu người từ tiền bạc, khối óc, bàn tay, và sức lao động để làm nên. Có mấy ai ngay cả các linh mục đã nghĩ đến họ hoặc cầu nguyện cho họ khi hàng ngày bước vào các thánh đường. Hoặc khi một linh mục giảng hay, nhiều người được ơn trở về với Chúa, gia nhập Giáo Hội, có thể đó là niềm tự hào của nhà giảng thuyết, nhưng với một người có chút suy nghĩ thì không phải vậy.
Những sự trở về kia dĩ nhiên chịu ảnh hưởng bởi những bài giảng hùng hồn, đầy ý nghĩa, nhưng chính cốt động lực để đưa một người trở về là do tác động của Chúa Thánh Thần. Và cũng nhờ vào hằng trăm những bà già, ông già, những người giáo dân quê mùa, những trẻ em đơn sơ đang ngồi dưới kia miệng lâm râm lời kinh nguyện, chấp nhận cái chật chội, nóng bức, giá lạnh trong thánh đường. Chính sự hy sinh và khiêm tốn ấy của họ đã kéo ơn Chúa xuống để làm trổ sinh thành quả cho một bài giảng.
Coi cha là Chúa, so sánh cha với Chúa không những không làm Chúa vui mà còn là một xỉ nhục cho Chúa trong rất nhiều trường hợp.
Thánh Tiến Sỹ Têrêsa d’Avila nói về những ông “chúa” này như sau:
“Nền hỏa ngục lát bằng sọ các linh mục”.
Nếu linh mục là Chúa thì không phải vào hỏa ngục, mà con số lại nhiều đến thế! Và Dòng Kín Camêlô đã không có những nữ tu ẩn mình ngày đêm trong bốn bức tường kín chỉ để cầu nguyện cho các linh mục.
Linh mục yếu đuối, bất toàn là sự thật hiển nhiên, và hình ảnh này đã được diễn tả trong Thánh Kinh qua Thư gửi Người Do Thái:
“Quả vậy, thượng tế nào cũng là người được chọn trong số người phàm, và được đặt lên làm đại diện cho loài người, trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội.
Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc, bởi chính người cũng đầy yếu đuối; mà vì yếu đuối, nên người phải dâng lễ đền tội cho dân thế nào, thì cũng phải dâng lễ đền tội cho chính mình như vậy .” (Do Thái 5:1-3)
Tóm lại, linh mục cũng chỉ là những con người được dựng nên với ơn gọi được trao ban, tương tự như ơn gọi làm cha, làm mẹ, làm chồng, làm vợ, làm con, làm bác sĩ, làm nha sĩ, làm dược sĩ, làm giáo sư, làm luật sư, làm kỹ sư, làm văn sỹ, làm thi sỹ, làm nhạc sỹ, làm họa sỹ, làm nông gia, làm thợ máy, làm người phu quét đường … đã được trao ban cho mỗi người để thánh hóa bản thân, ca tụng Chúa, phụng sự tha nhân, nâng cao giá trị và vẻ đẹp cho đời.
Chính Chúa Giêsu đã khẳng định về giá trị của từng ơn gọi qua dụ ngôn nén bạc.
Giá trị không phải là người được trao 5 nén, người được trao 2 nén, và người được trao 1 nén.
Giá trị cuối cùng là ai đã làm lời dựa trên số vốn đã được trao, hoặc không làm gì hết. Có nghĩa là ai sống trọn, sống nên với ơn gọi của mình là người có giá trị trước mặt Chúa.
Linh mục nào tự cho mình cái quyền hơn người khác, quyền đòi được người khác phải tôn kính, và ca tụng ngang với Chúa thì linh mục đó chưa đọc Thánh Kinh và nếu đọc thì chưa hiểu, hoặc nếu hiểu thì chưa sống Thánh Kinh:
“Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đấy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn dân .” (Mt 20:25-28)
Ngày nay, não trạng coi cha là Chúa, trước hết đến từ chính các linh mục. Thiếu kiến thức và hiểu biết về nhân văn, về con người, về xã hội và về tâm lý, thiếu khiêm nhường trong cung cách sống, nhiều chủng sinh sau khi trở thành linh mục đã tỏ ra rất tự cao tự đắc.
Câu chuyện mà tôi đã nghe hôm dùng cơm với Đức Giám Mục Mai Thanh Lương tại tư gia do họa sỹ và điêu khắc gia Văn Nhân kể vẫn còn khắc ghi trong ký ức.
Ông kể rằng tại xứ ông thuở đó cha xứ rất uy quyền, muốn đánh, muốn chửi, muốn phạt ai cũng được, và mọi người đều sợ và kính trọng. Trong xứ có một ông trùm có máu cờ bạc bị bắt quả tang đang đỏ đen tại nhà một giáo dân khác. Ông được đưa đến trước mặt cha xứ, và cha xứ đã nọc ông ra trước mặt mọi người dùng gậy đánh ông vì cái tội cờ bạc. Bị đánh đau quá, ông trùm cáu lên nói:
-Cha đánh con nữa, con bỏ đạo.
-À thế hả. Vậy cha đánh để rút linh hồn ông trùm ra, kẻo bỏ đạo sẽ mất linh hồn.
Vừa nói, cha xứ vừa đánh một cách không thương xót. Đau quá, chịu không nổi, ông trùm lại thưa:
-Thưa cha, con không dám bỏ đạo nữa.
-Thế hả. Vậy cha đánh để nhét linh hồn ông trùm vào.
Không biết cha xứ có khả năng rút linh hồn hay nhét linh hồn cho ai không, nhưng chỉ biết là sau trận đòn ấy, không thấy ông trùm đi lễ, đi nhà thờ nữa.
Những câu chuyện cha không phải là Chúa thì nhiều vô kể, chỉ cần nhắc đến hơn 2 tỷ dollars mà Giáo Hội Hoa Kỳ trả cho những trường hợp linh mục ấu dâm đã đủ để chứng tỏ cha không phải là Chúa.
Các Giáo Hoàng từ Thánh Gioan Phaolô II đến Bênêđíctô XVI và hiện giờ là Phanxicô đã phải hạ mình xin lỗi thế giới, xin lỗi các nạn nhân về những lỗi phạm tầy đình của một số giám mục, linh mục không phải là “Chúa” này.
Hoặc gần đây hiện tượng Nguyễn Bá Thông tại Việt Nam đang làm nhiều người hoài nghi về sự thánh thiện cũng như phẩm tính “thiêng liêng” của linh mục.
Ngoài ra, não trạng cha là Chúa cũng đến từ sự thiếu hiểu biết và tin tưởng mù quáng của giáo dân. Phần đông giáo dân Việt Nam, khi một linh mục vừa được thụ phong là họ đã phong thánh ngay cho tân linh mục ấy rồi. Với phong tục và ảnh hưởng văn hóa, phần lớn giáo dân Việt Nam không ai muốn mang tiếng bất kính với cha cụ nên cứ nhắm mắt “Vâng ý cha dưới đất cũng như trên trời”!
Chính do sự tôn kính cuồng tín đã đào tạo nên những thế hệ giáo dân thụ động trước những linh mục lộng hành, bất xứng.
Không biết từ đâu và do ai mà tư tưởng sau đây đã lan rộng trong nhiều người:
“Thà làm con chó nhà Đức Chúa Trời, còn hơn làm người thế gian”.
Một tư tưởng, một lối suy nghĩ coi rẻ nhân phẩm, phản đạo đức, và phản tiến bộ như vậy mà từ cha đến con, từ người già đến trẻ không ai dám lên tiếng, hoặc không muốn lên tiếng.
Một người bạn qua Mỹ định cư do con bảo lãnh. Anh đã gặp một linh mục cũng là bạn cùng lớp với nhau khi ở Việt Nam . Vì nghĩ rằng cha là chúa, muốn làm gì thì làm, nên anh đã nói với người anh em linh mục cho anh xin một việc làm trong nhà xứ, việc gì cũng được, giật chuông, đốt hoặc tắt nến, giúp lễ, quét dọn nhà thờ, nhà xứ, thổi cơm nấu nước … miễn là mỗi tháng được ít trăm tiêu vặt.
Nhưng người bạn linh mục của anh đã trả lời rằng cha cụ bên Mỹ không như cha cụ ở Việt Nam muốn làm gì thì làm. Cha cụ bên này làm gì hay thuê mướn ai phải được sự đồng ý của Hội Đồng Giáo Xứ. Mọi việc lớn nhỏ trong giáo xứ phải được điều hành một cách rõ ràng, có giấy tờ, cha xứ không được phép muốn làm gì thì làm. Và thế là anh em xẩy ra mất lòng nhau.
Điều dễ hiểu cho một giáo dân ở Hoa Kỳ, nhưng lại rất khó hiểu có khi được cho là bất kính đối với một giáo dân ở Việt Nam . Một phó tế Việt Nam hiện đang điều khiển một giáo xứ lớn tại miền bắc Los Angeles, California.
Dưới quyền của thầy là linh mục chính xứ, linh mục phó xứ, các nữ tu, nhân viên Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ. Thầy được giám mục “thuê” để điều hành và phát triển giáo xứ trong khi linh mục chính xứ và linh mục phó xứ thì chỉ chuyên về tâm linh, đạo đức. Lý do vì thầy có bằng cấp, có chuyên môn và có khả năng điều hành.
Không chỉ là phó tế, nữ tu, tất cả những ai có bằng cấp, khả năng chuyên môn đều được trọng dụng trong đường lối cai quản các giáo phận và giáo xứ tại Hoa Kỳ. Bạn tôi có người con trai có bằng Cao Học về Mục Vụ. Anh đã được một giáo xứ thuộc giáo phận miền bắc California thuê để điều hợp và phát triển chương trình mục vụ của giáo xứ.
Ngoài lãnh vực mục vụ, quản trị, những lãnh vực khác như ca nhạc, phụng vụ cũng vậy. Chưởng Nghi Lễ của giáo phận tôi là một phụ nữ. Những lần tấn phong giám mục hay những đại lễ bà đều xuất hiện và điều khiển phần nghi lễ. Lý do vì bà có bằng tiến sỹ phụng vụ. Những chuyện như vậy chắc không bao giờ xảy ra ở Việt Nam, hoặc nếu có thì cũng phải mất ít nhất 50 năm hoặc lâu hơn nữa.
Để kết thúc suy nghĩ về sự liên kết, so sánh mà theo tôi là một xúc phạm khi cho rằng cha là Chúa, chúng ta cần suy niệm một cách nghiêm chỉnh lời Thánh Phaolô sau đây:
“Vậy anh em không còn phải là người xa lạ hay người tạm trú, nhưng là người đồng hương với các người thuộc dân thánh, và là người nhà của Thiên Chúa, bởi đã được xây dựng trên nền móng là các Tông Đồ và ngôn sứ, còn đá tảng góc tường là chính Đức Kitô Giêsu. Trong Người, toàn thể công trình xây dựng ăn khớp với nhau và vươn lên thành ngôi đền thánh trong Chúa. Trong Người, cả anh em nữa, cũng được xây dựng cùng với những người khác thành ngôi nhà Thiên Chúa ngự, nhờ Thần Khí .” (Epheso 2:19-22)
Thần khí đó là thần khí con cái Chúa, thần khí yêu thương, thần khí phục vụ mà mỗi người được Thiên Chúa tác tạo và trao ban theo ơn gọi riêng của chính mình.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét