Để chuẩn bị mừng Kính thánh Phanxicô Xavier (03 tháng 12), Trang thông tin điện tử Dòng Tên xin giới thiệu bài: “Phóng vấn Thánh Phanxicô Xavier” của Cha Cosma Hoàng Văn Đạt, S.J. (Nay là Giám mục Giáo phận Bắc Ninh).
Ngày
01.12.1552, trên đảo Thượng Xuyên, gần tỉnh Quảng Đông, Trung Hoa,
thánh Phanxicô Xavier, 46 tuổi, đang chờ một nhà buôn đến đưa ngài vào
đất liền. Chỉ hai ngày nữa, ngài sẽ qua đời. Chúng ta đến chòi lá của
ngài, để phỏng vấn ngài. Các câu hỏi do chúng ta đặt ra, các câu trả lời
thực sự là của ngài.
***
1) Thưa cha, cha nhất định phải vào Trung Hoa?
Hết
ngày này sang ngày khác, tôi đang chờ đợi một người Trung Hoa từ Quảng
Đông đến đón (Bt 131,10) [1]. Trung Hoa là một nước rộng mênh mông bát
ngát, thanh bình, và được cai trị bằng những luật lệ khôn ngoan. Chỉ có
một vua mà ai nấy đều hết sức tùng phục. Đó là một vương quốc rất giàu
có, tài nguyên đủ loại, không thiếu gì… Người Trung Hoa rất khéo léo và
rất hiếu học, nhất là về luật lệ liên hệ đến việc trị nước. Họ rất ham
hiểu biết… Họ đại lượng và nhất là rất hiếu hòa. Trong nước không có
chiến tranh… Tôi đi Trung Hoa để thực hiện những việc lớn lao nhằm phục
vụ Thiên Chúa (Bt 97,19). Trong Thiên Chúa, tôi rất hi vọng là một con
đường sắp được mở ra, không chỉ cho anh em trong Dòng Tên, mà còn cho
tất cả các dòng khác… (Bt 96,52).
2) Cha biết đó là điều nguy hiểm chứ?
Hai
nguy cơ có thể xảy ra, theo như dân địa phương nói. Thứ nhất, người dẫn
chúng tôi có thể bỏ chúng tôi trên một đảo hoang, hay ném xuống biển,
sau khi đã nhận 200 cruzadoz[2][2], để tổng đốc Quảng Đông khỏi biết;
thứ hai, nếu họ đưa chúng tôi đến Quảng Đông, và nếu chúng tôi đến gặp
tổng đốc, chúng tôi sẽ bị đánh đập hoặc tống giam… Lệnh cấm ở Trung Hoa
ngặt đến nỗi không ai được vào nếu không có phép của nhà vua, mà vua đã
cấm ngặt người nước ngoài không ai được vào… Chúng tôi cho rằng những
nguy hiểm phần hồn lớn hơn những nguy hiểm phần xác nhiều, nên chúng tôi
thấy là thà đương đầu với những nguy hiểm phần xác còn yên tâm hơn là
để mình bị nguy hiểm phần hồn trước mặt Thiên Chúa. Vì vậy, chúng tôi
nhất quyết đến Trung Hoa, bất cứ bằng cách nào. Tôi hy vọng trong Thiên
Chúa là chuyến đi Trung Hoa của chúng tôi sẽ thành công và sẽ góp phần
vào việc truyền bá đức tin, mặc dầu Kẻ Thù và tay sai chúng có thể tung
ra những cuộc bách hại. Thực vậy, “Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai
còn chống lại được chúng ta”(Rm 8,31; Bt 131,3.6).
3) Có vẻ cha thích phiêu lưu mạo hiểm!
Có
những người thật là ngược đời: cố lôi kéo Thiên Chúa đến nơi họ thích,
chứ không chịu đến nơi Thiên Chúa mời gọi họ tới. Có những người đang
theo một con đường gập ghềnh và nguy hiểm để leo lên một ngọn đồi dựng
đứng, mà sau bao nhiêu cực nhọc, chỉ chuốc lấy một kết thúc khốn khổ (Bt
6,4). Chúng tôi hoàn toàn không đi tìm những ưu đãi của người đời, và
chúng tôi có làm gì cũng chỉ vì Chúa. Thực vậy, nếu phải chịu những gian
truân chúng tôi đã trải qua chỉ một ngày thôi để được cả thế giới này,
chúng tôi cũng từ chối (Bt 13,3).
4) Thời gian ở Ấn Độ của cha thế nào?
Chúng
tôi rời Lisbõa đi Ấn Độ ngày 7.4.1541, và đến Ấn Độ ngày 6.5.1542 (Bt
15,2). Khu vực chúng tôi đến gọi là mũi Comorin (Bt 15,14). Tôi đưa theo
3 người bản xứ. Họ rất thông thạo tiếng Bồ Đào Nha, và thông thạo tiếng
mẹ đẻ hơn nữa…Chúng tôi đi qua những làng Kitô giáo, nơi dân chúng đã
theo đạo khoảng tám năm trước. Không có người Bồ Đào Nha nào sống trong
các làng này, vì đất đai cằn cỗi và người ta hết sức nghèo khổ. Vì các
Kitô hữu trong các làng này không được ai dạy dỗ về đức tin, nên về đạo,
họ không nói được gì hơn là họ có đạo. Không có ai để dâng lễ cho họ,
cũng không có ai dạy họ kinh Tin Kính, kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng và
kinh Mười Điều Răn. Khi đến các làng này, tôi đã rửa tội cho tất cả trẻ
em chưa được rửa tội; và như vậy, tôi đã rửa tội cho rất nhiều hài nhi
“chưa biết phân biệt tay phải với tay trái”(Gn 4,11). Hễ tôi đến làng
nào, trẻ em chưa cho tôi đọc kinh, hoặc ăn hay ngủ, nếu chưa dạy các em
vài ba kinh. Tôi bắt đầu hiểu rằng “Nước Trời thuộc về những ai giống
như trẻ em”(Mt 19,4; Bt 19,2). Xong một làng, tôi để lại một người tiếp
tục công việc đã khởi sự, rồi đến các làng khác cũng làm y như vậy… Ở
những nơi tôi đi qua, tôi để lại những bản viết các kinh, và cho người
biết chữ viết lại, cho học thuộc lòng, rồi cho đọc hằng ngày. Tôi cũng
cho mọi người họp vào Chúa Nhật để đọc kinh. Tại các làng, tôi đặt người
phụ trách công việc này (Bt 20,7).
5) Cha có kêu gọi các bạn ở Châu Âu qua tiếp tay không?
Vì
thiếu người lo những việc đạo đức và thánh thiện như vậy, nên nhiều
người ngoại đáng lẽ có thể theo đạo mà không theo được. Rất nhiều khi
tôi có ý định về bên nhà, đến các nơi người ta học hành, để gào thét như
một người mất trí, đặc biệt là ở Đại học Paris. Tôi muốn đến Học viện
Sorbonne nói với những người hiểu biết nhiều, nhưng ít muốn làm cho kiến
thức của mình sinh hoa kết quả: “Biết bao linh hồn không được hưởng
phúc vinh quang, nhưng phải sa địa ngục, vì quí vị lơ là”… Gần như tôi
bị thúc bách viết thư cho Đại học Paris… để cho biết là hàng ngàn hàng
vạn người ngoại sẽ theo đạo, nếu có được những người không bám lấy lợi
lộc riêng tư, nhưng cố gắng sinh lợi cho Chúa Giêsu Kitô, nên tìm kiếm
và giúp đỡ các linh hồn”(Bt 20,8)… Ôi! Nếu thay vì chỉ thỏa lòng nhờ
hiểu những điều mình học, người sinh viên tìm trong việc giúp đỡ tha
nhân biết họ cần gì để cảm nhận được Chúa, người ấy sẽ được an ủi hơn và
sẵn sàng tính sổ linh hồn với Chúa hơn, vào ngày Đức Kitô sẽ hỏi: “Hãy
tính sổ cho Ta biết ngươi đã quản lý tài sản thế nào”(Lc 16,2; Bt
20,13).
6) Rồi chuyện ở đảo Môrô?
Đối
diện với Maluco[3], có một xứ gọi là Môrô… Trên đảo này, một số đông
người theo đạo từ nhiều năm trước, nhưng vì các giáo sĩ đã rửa tội cho
họ sau đó qua đời, nên họ bị bỏ rơi, không ai dạy dỗ. Vì khu vực Môrô ấy
rất nguy hiểm…, dân chúng thường trộn thuốc độc vào đồ ăn thức uống đem
cho người khác, nên những người có thể lo cho các tín hữu tại Môrô đã
từ chối, không chịu đến đó. Vì các tín hữu tại các đảo Môrô cần được dạy
dỗ về đức tin, và cần có người rửa tội cho họ để họ được rỗi linh hồn,
và cũng vì tôi có bổn phận liều mất sự sống trần gian để giúp đỡ tha
nhân về đời sống thiêng liêng, nên tôi đã quyết định đến Môrô để giúp
các tín hữu trong những điều thiêng liêng, liều mình vào nơi nguy tử,
đặt trọn hy vọng và tin tưởng nơi Thiên Chúa… Nhiều bạn hữu và những
người quí mến tôi tìm cách ngăn cản tôi lên đường đến một khu vực nguy
hiểm như vậy. khi thấy không thuyết phục được tôi bỏ dự tính, họ cho tôi
nhiều thuốc giải độc. Tôi rất biết ơn họ đã yêu mến và quan tâm đến
tôi, nhưng để đừng chất vào mình nỗi sợ hãi mình vốn không có, và hơn
nữa, vì tôi đã đặt trọn vẹn tin tưởng nơi Thiên Chúa, nên để khỏi đánh
mất lòng tin tưởng, tôi đã từ chối, không nhận các thứ thuốc mà vì yêu
mến, họ khóc lóc để cố ép tôi nhận. Tôi chỉ xin họ luôn luôn nhớ đến tôi
khi cầu nguyện, vì đây là thuốc công hiệu nhất để chống lại việc có thể
bị đầu độc (Bt 55,4).
7) Vì sao cha lại đi Nhật Bản?
Vì
nhận được thông tin rộng rãi về những thuận lợi cho việc truyền bá đức
tin tại các đảo của Nhật Bản, và sau khi đã tìm hiểu nơi những người
đáng tin vì đã lưu trú trên các đảo của Nhật Bản, tôi đã quyết định xin
Thiên Chúa ban cho tôi ơn trọng đại này là nếu tôi đến những khu vực ấy
mà phục vụ được Thiên Chúa hơn, thì cho tôi cảm nhận được ý muốn rất
thánh của Người trong tâm hồn, và cho tôi sức mạnh cần thiết để thi hành
trọn vẹn. Thiên Chúa uy linh đã thương cho tôi cảm nhận được trong tâm
hồn là chính vì việc phục vụ Người mà tôi đi Nhật Bản, và vì vậy tôi rời
Ấn Độ để thi hành điều Thiên Chúa cho tôi cảm nhận nhiều lần về việc
lên đường đi Nhật Bản, với dự tính phục vụ Người (Bt 83,1).
8) Xin cha cho biết đôi chút về thời gian cha ở Nhật Bản.
Trước
hết, chúng tôi đến Kagoshima. Chúng tôi ở lại đó hơn một năm (Bt
96,13). Trong năm ấy, chúng tôi dạy giáo lý cho các tín hữu, học tiếng
và dịch nhiều điều trong Luật Thiên Chúa ra tiếng Nhật Bản… Các tín hữu
cũng như những người chưa theo đạo rất thích nghe những điều ấy, vì họ
thấy là đúng… Sau một năm, và vì lãnh chúa địa phương không hài lòng về
Luật Thiên Chúa lan tràn tại đó, chúng tôi đến một xứ khác… Nhờ đọc cuốn
sách chúng tôi đã dịch sang tiếng Nhật Bản, và nhờ nhiều buổi nói
chuyện của chúng tôi, nhiều người đã theo đạo… Sau đó, chúng tôi đến
Yamaguchi. Trong thành phố ấy có nhiều hiệp sĩ và những người khác rất
ước mong biết Luật chúng tôi rao giảng thế nào. Chúng tôi ở lại trong
thành phố ấy nhiều ngày để rao giảng trên đường phố cũng như trong nhà.
Dân chúng rất thích nghe kể chuyện đời sống Đức Kitô, và họ khóc khi
chúng tôi tường thuật cuộc Thuơng Khó. Nhưng ở đó có ít người theo đạo.
Vì thấy ít có kết quả, chúng tôi quyết định đến một thành phố khác,
thành phố quan trọng nhất trong toàn bộ Nhật Bản, gọi là Myako[4][4].
Chúng tôi mất hai tháng trên đường, phải đương đầu với nhiều nguy hiểm,
vì có nhiều trận chiến trong các địa phương, mà trời thì rất lạnh, lại
có nhiều kẻ cướp nữa. Chúng tôi tìm cách gặp nhà vua để xin phép rao
giảng Luật Thiên Chúa trong vương quốc, nhưng không gặp được. Vì sau đó
chúng tôi được biết là người ta không phục tùng nhà vua, nên chúng tôi
quay trở lại Yamaguchi… Thường chúng tôi giảng mỗi ngày hai lần. Sau bài
giảng là một buổi thảo luận kéo dài khá lâu. Nhà chúng tôi gần như lúc
nào cũng đầy người, và thường người ta không vào trong nhà hết được. Họ
đặt ra cho chúng tôi biết bao nhiêu câu hỏi, và chúng tôi giải thích cho
họ bao nhiêu điều, đến nỗi họ nhìn nhận rằng Luật của các vị thánh hiền
họ từng tin là sai, và Luật Thiên Chúa là đúng. Nhiều ngày sau, họ bắt
đầu theo đạo, và những người đầu tiên theo đạo lại chính là những người
từng tỏ ra thù nghịch nhất cả khi chúng tôi giảng cũng như trong khi
thảo luận… Trong khi chúng tôi đang ở thành phố Yamaguchi, thì một lãnh
chúa rất quan trọng là công tước xứ Bungo viết thư mời đã đến chỗ ông,
vì có một tàu Bồ Đào Nha đã vào cảng của ông, và ông muốn trao đổi với
tôi một số điều quan trọng. Hiểu là ông muốn theo đạo, và tôi cũng mong
được gặp những người Bồ Đào Nha, tôi đã đi Bungo… Từ Bungo, tôi không
trở lại Yamaguchi, nhưng quyết định đi Ấn Độ, trên một chiếc tàu Bồ Đào
Nha, để gặp lại anh em ở Ấn Độ, và được vui mừng vì gặp lại nhau, vừa để
đưa đến Nhật Bản các cha trong Dòng Tên, vì xứ ấy cần các cha, và cũng
để từ Ấn Độ đem theo một số điều cần thiết mà ở Nhật Bản không có (Bt
96,13.14.16.36.40).
9) Xem ra mọi sự có vẻ nhẹ nhàng, nhưng chắc là cha đã gặp nhiều khó khăn!
Tất
cả các thân hữu và bạn hữu tôi đều sợ lắm, vì tôi thực hiện một cuộc
hành trình lâu dài và nguy hiểm như vậy. Phần mình, tôi sợ hơn họ, vì
thấy họ tỏ ra thiếu đức tin. Thiên Chúa chỉ huy và có quyền trên bão tố ở
biển Trung Hoa và Nhật Bản, mặc dầu chúng mạnh hơn tất cả bão tố người
ta đã gặp từ trước đến nay. Ngoài gió, còn có đá ngầm, nhiều lắm, theo
người ta nói, và nhiều con tàu đã tiêu tan ở đó. Nhưng Thiên Chúa là
Đấng hùng mạnh. Thiên Chúa chỉ huy và có quyền trên tất cả những tên hải
tặc trên biển, dù số này đông đến mức đáng sợ. Những tên hải tặc này
rất tàn ác, chúng làm đủ thứ để tra tấn và hành hạ những người bị chúng
bắt, nhất là người Bồ Đào Nha. Vì Thiên Chúa có quyền trên chúng hết
thảy, nên tôi không sợ ai, ngoại trừ Thiên Chúa, chỉ sợ Người phạt vì
chểnh mảng trong việc phục vụ Người, vì vụng về và vô dụng trong việc
truyền bá danh Chúa Giêsu giữa những kẻ chưa biết Người. Còn những nỗi
sợ khác, những nguy hiểm khác, những đau khổ khác, mà bạn bè nói tới, đã
kể là số không. Tôi chỉ còn sợ Thiên Chúa, vì nỗi sợ đối với các thụ
tạo chỉ lớn tới mức Đấng Sáng Tạo ra chúng cho phép là cùng (Bt 78,2).
Vì ma quỉ không làm hại con người hơn mức được Thiên Chúa cho phép, nên
vào những giờ phút ấy, phải sợ mình thiếu tin tưởng nơi Thiên Chúa hơn
là sợ chính Kẻ Thù… Không ai là người yếu đuối, nếu biết tận dụng ơn
Thiên Chúa ban cho mình (Bt 90,8.9).
10) Nghe nói khi gặp nguy hiểm, cha xin Chúa đừng để mình thoát khỏi!
Trong
chuyến đi từ Malacca đến Ấn Độ, tôi đã trải qua nhiều nguy hiểm, vì bão
suốt ba ngày ba đêm, bão lớn tôi chưa từng gặp bao giờ. Nhiều người còn
sống đã than khóc như sắp chết, và thề sống thề chết là nếu Chúa cho
thoát được thì sẽ không bao giờ đi biển nữa. Chúng tôi đã liệng hết đồ
đạc xuống biển, bỏ của chạy lấy người. Khi trận bão lên đến cực điểm,
tôi đặt mình trong tay Chúa… Mỗi lần gặp nguy hiểm, tôi cầu xin các
thiên thần, cũng như các thánh tổ phụ, ngôn sứ, tông đồ, thánh sử, tử
đạo, tuyên đạo, đồng trinh và tất cả các thánh trên trời. Và để chắc
được Thiên Chúa tha thứ muôn vàn tội lỗi, tôi xin Đức Mẹ vinh hiển cầu
khẩn cho mình, vì ở trên trời, Mẹ xin gì với Thiên Chúa cũng được nhậm
lời. Cuối cùng, tôi đặt hết hy vọng nơi Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Chuộc
và là Chúa chúng ta, Đấng đã chịu nạn chịu chết mà lập công đền tội
chúng ta. Trong cơn bão tố, nhờ được giúp đỡ và phù hộ như trên, tôi
thấy mình được an ủi có thể nhiều khi còn hơn cả lúc tôi thoát khỏi
cảnh ngặt nghèo… Vì thế, lần gặp bão này, tôi đã xin Thiên Chúa chỉ cho
tôi thoát trận bão ấy nếu Người cho tôi chịu những trận khác lớn bằng
hay lớn hơn nữa, để phục vụ Thiên Chúa hơn (Bt 59,20-21).
11) Có khi nào cha bị cám dỗ bỏ cuộc không?
Có
lần ở Ấn Độ, tôi đã phải thốt lên [5]: Bảo đảm và chắc chắn là hôm nay
mà có tàu đi, tôi sẽ đi ngay lập tức… Tôi không biết còn làm gì được
nữa, nếu không phải là chẳng nên mất thêm thời giờ để sống giữa những
người không biết tôn trọng chi hết…Thực là tôi buồn không bút nào tả
xiết (Bt 41,1.4). Tôi chán sống đến nỗi thà được chết trong khi truyền
bá luật Chúa và đức tin của chúng ta còn hơn cứ phải thấy người ta xúc
phạm đến Chúa mà mình không làm gì được (Bt 44,3)… Sống ở nơi người ta
thờ tượng thần, nơi khó chịu vì khí hậu rất oi bức; tất cả những trở
ngại ấy, nếu biết chấp nhận nhân danh Chúa, chúng sẽ trở nên nguồn phúc
đức và dịp lãnh những an ủi lớn lao. Tôi tin rằng ai thực lòng yêu mến
Thánh Giá Chúa Kitô sẽ tìm thấy an nghỉ khi đương đầu với những thử
thách, và họ sẽ chết khi trốn hoặc thiếu thử thách. Còn cái chết nào tệ
hơn đời sống của người, sau khi đã biết Chúa Kitô, lại bỏ Chúa để chạy
theo sở thích và quyến luyến riêng! Thật không gì buồn hơn. Trái lại, ai
chết đi mỗi ngày, đi ngược lại ý riêng, không tìm những điều thuộc về
mình, nhưng là những điều thuộc về Chúa Giêsu Kitô, sẽ được bình an biết
bao! (Bt 15,15). Những cám dỗ thường ngăn cản những người yếu đuối đạt
đến điều trọng đại này là hiểu biết Thiên Chúa vô cùng nhân hậu thế nào,
vì sống trên đời mà không cảm nếm được Thiên Chúa thì đó không phải là
sống, mà là chết dần chết mòn (Bt 90,26).
12) Dòng Tên là “hậu phương” lớn của cha?
Tôi
nghĩ rằng Dòng Tên là “Dòng yêu mến và hiệp nhất tâm hồn” (Bt 70,5)…
Tất cả anh em trong Dòng hiện diện liên lỷ trong tâm trí tôi (Bt 48,1)… Ở
Ấn Độ, để giải trí, tôi rất thường nhớ đến anh em trong Dòng, và nhớ
đến thời gian, vì Chúa quá thương, tôi được biết anh em và sống với anh
em. Tôi tự biết và cảm thấy trong lòng là, do lỗi mình, tôi đã để thời
gian ấy qua đi mà không rút được ích lợi từ bao nhiêu điều chính Chúa
cho anh em hiểu biết. Nhờ lời anh em cầu nguyện, và vì anh em luôn luôn
nhớ đến tôi, Chúa ban cho tôi ơn rất lớn là dù xa cách anh em về thể
xác, nhưng nhờ anh em nâng đỡ và giúp đỡ, Chúa cho tôi cảm thấy muôn vàn
tội lỗi của mình, và cho tôi sức mạnh để đến giữa dân ngoại (Bt 20,14)…
Để đừng bao giờ quên anh em trong Dòng, và lúc nào cũng nhớ đặc biệt
đến anh em, tôi đã cắt tên của anh em trong các thư tử chính tay anh em
viết cho tôi, để có thể luôn luôn mang trên mình, cùng với lời khấn của
tôi. Điều này đem lại cho tôi nhiều an ủi… Tôi cảm thấy sung sướng khi
mang tên của anh em trên mình (Bt 55,10)… Chúa biết cho là gặp anh em
thì tâm hồn tôi được an ủi hơn nhiều. Vậy mà tôi cứ phải viết thư cho
anh em, lại không chắc thư đến, vì từ Ấn Độ đến Rôma xa quá… Tôi nghĩ
mình không lầm khi nói xa cách phần xác không làm cho chúng ta, vốn yêu
mến nhau trong Chúa, bớt yêu mến và nghĩ đến nhau (Bt 48,1)… Nếu ở đời
này, người ta thấy được trái tim của những người yêu mến nhau trong Đức
Kitô, thì anh em Dòng Tên sẽ thấy rõ chính anh em trong trái tim tôi (Bt
90,60)… Khi nói về Dòng Tên, tôi không biết làm sao chuyển sang đề tài
khác được, và không sao dừng bút được… Nếu khi nào tôi quên Dòng Tên
Chúa Giêsu, thì xin cho tôi quên cả tay phải mình đi[6][6], vì nói sao
thì nói, tôi biết là mình mắc nợ rất lớn đối với tất cả anh em trong
Dòng (Bt 59,22).
13) Đặc biệt với cha I-nhã?
Chúa
đã ban ân huệ lớn lao khi cho tôi được biết Cha I-nhã. Bao lâu còn
sống, không bao giờ tôi trả được món nợ đối với ngài (Bt 1,6)…Trong số
nhiều lời thánh thiện và an ủi của ngài, tôi đọc được những lời thế này:
“Hoàn toàn thuộc về nhau. Không bao giờ quên được nhau.” Tôi đã rơi lệ
khi đọc những chữ ấy, và cũng rơi lệ khi kể lại, vì nhớ lại thời gian đã
qua, nhớ đến ngài đã và vẫn luôn luôn rất thương tôi, và nhờ những lời
khẩn nguyện thánh thiện của ngài, Thiên Chúa đã cho tôi thoát được bao
gian nan, bao nguy hiểm (Bt 97,1)… Đó là một con người hoàn toàn thuộc
về Thiên Chúa, đời sống không có gì chê trách được (Bt 1,7).
14) Nếu lần này Cha không vào Trung Hoa được?
Xin
Chúa thương cho ông ấy đến, như tôi vẫn ước mong; vì nếu làm sao đó mà
Thiên Chúa không muốn như vậy, tôi không biết sẽ phải làm gì, hoặc là
phải đi Ấn Độ hay Thái Lan, để từ Thái Lan theo phái đoàn sứ thần vua
Thái Lan cử sang Trung Hoa (Bt 131,10).
15) Có người nghĩ là cha có đầu óc chinh phục!
Muốn sống tốt ở đời này, chúng ta phải làm khách hành hương để đi bất cứ đâu, đến nơi chúng ta có thể phục vụ Chúa (Bt 50,2).
Đặt câu hỏi: Hoàng Sóc Sơn.
[1] Thánh Phanxicô Xavier , Bút Tích 131, số 10.
[2] Xem Bt 132,1: giá 1200 kg hạt tiêu.
[3] Quần đảo Maluku, đông bắc Inđônêxia. Môrô, hay Omôrô, hoặc Các Đảo Môrô, là tên gọi chung khu vực bờ biển tây bắc đảo Hamahera và hai đảo Môrôtai và Rau. Dân địa phương gọi bờ biển tây bắc đảo Hamahera là Môrôtia (Môrô đất) và hai đảo kia là Môrôtai (Môrô biển).
[4] Kyoto hiện nay, lúc ấy là Kinh đô Nhật Bản.
[5] “Có lần ở Ấn Độ, tôi đã phải thốt lên”: câu này do người soạn thêm vào.
[6] X. Tv 136,5.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét